Trao đổi

NGÀI ATISHA VÀ ĐÈN SOI ĐƯỜNG GIÁC NGỘ
03:12 | 03/02/2018 (GMT+7)
Lam-rim được giải thích là bản văn nói về những giai tầng của toàn bộ con đường đạt tới giác ngộ như đã được truyền giảng bởi chính Đức Phật Thích-ca, do các vị đại sư soạn thảo với mục đích hướng dẫn hành giả thực hành giáo pháp của Đức Phật tuần tự tu tập theo căn tính của mỗi người để cuối cùng có được tuệ giác như thị.
I. Sơ lược về Lam-rim
   Lịch sử văn học của Phật giáo Tây Tạng ghi nhận nhiều phiên bản Lam-rim khác nhau được trình bày bởi nhiều vị đại tông sư của ba tông phái chính Nyingma, Kagyu và Gelug. Tuy nhiên, tất cả những bản văn ấy đều dẫn xuất từ một văn bản gốc đã được soạn thảo vào thế kỷ thứ XI bởi ngài Atisha; bản văn Bodhipathapradipa, được dịch ra tiếng Anh là Lamp for the Path to Enlightenment, ở đây xin  tạm dịch ra tiếng Việt là Đèn soi đường Giác ngộ. Những phiên bản Lam-rim khác mở rộng đến các chi tiết và được xây dựng từ những  góc nhìn khác nhau của từng tông phái. Trong khi bản khởi thảo của ngài Atisha nhấn mạnh đến tâm Bồ-đề thì văn bản Lam-rim của ngài Gampopa khởi đi từ Phật tính của chúng  sinh, còn bản của ngài Tsongkhapa bắt đầu từ việc xác lập niềm tin vào vị thầy hướng dẫn rồi nhấn mạnh đến tính chất cao quý của việc được tái sinh trong thân người. Lam-rim có một vị trí quan trọng đối với tất cả mọi tông phái Phật giáo Tây Tạng. Và vì tác giả bản văn đầu tiên của hệ thống các văn bản Lam- rim là ngài Atisha, việc tìm hiểu về cuộc đời cũng như nội dung tác phẩm của ngài sẽ góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa về những giai tầng của con đường giác ngộ.

II. Hành trạng ngài AtishaAtisha Dipankara  
   Srijnana  vẫn  được  coi là một trong những bậc thánh triết vĩ đại của Phật giáo Ấn Độ mặc dù ngài ít được người Ấn Độ nhắc đến. Đối với những  dân tộc sinh sống quanh  dãy núi Himalaya, ngài được tôn kính như một biểu tượng của tình thương, tính nhân bản, đức hy sinh và thái độ thân thiện; một bậc đại sư đã cống hiến cả cuộc đời cho việc tìm hiểu, thực hành rồi truyền bá giáo pháp  của Đức Phật. Ngài đã từng truyền giảng Phật pháp tại các Phật học viện lớn như Nalanda và ở nhiều tu viện nổi tiếng khác. Ngài đóng một vai trò quan trọng trong việc khơi dậy tuệ giác và phục hưng Phật giáo trong thời đại của mình. Tư tưởng  của ngài đã mang  lại một sự chuyển hóa tích cực trong  giới Tăng sĩ đương  thời về những khái niệm liên quan đến giới đức, phẩm chất cao quý, lý tưởng và tinh thần cách mạng  trong  đời sống văn hóa, tôn giáo và xã hội của dân chúng.
   Hành trạng của ngài được ghi nhận và lưu trữ trong rất nhiều văn bản của người Tây Tạng, hầu hết mang tính cách truyền thuyết, nhấn mạnh đến việc ngài được hướng dẫn bởi vị thánh nữ của Kim cương thừa là Đức Tara.
   Tổng hợp nhiều tài liệu khác nhau, người ta có thể xác định ngài Atisha ra đời vào năm  982 tại thị trấn Vikramapura, thủ phủ của một trong những vương quốc cổ ở miền Đông nam xứ Bengal, nay thuộc Bangladesh. Tương tự  Đức Phật  Thích-ca, ngài  Atisha xuất  thân trong một gia đình vương giả, thân phụ là vua Kalyana Sri còn thân mẫu là hoàng  hậu Shri Prabhavati; ngài là người con thứ hai trong số ba vị hoàng tử, được đặt tên là Chandragarbha (Nguyệt Tạng), lớn lên trong lâu đài chính của vương quốc gọi là Golden Banner Palace (Kim Phan điện). Từ nhỏ, ngài đã tỏ ra có thiên hướng về tâm linh và hết sức thông minh nên được vua cha trông đợi là người kế vị. Tuy nhiên, ngài sớm thể hiện sự quan tâm đến người khác với lòng từ của một nhân cách giác ngộ và thái độ không bị ràng buộc với cuộc sống thế tục. Ngài được hưởng một nền giáo dục phong  phú; lên ba tuổi, ngài đã khéo soạn những bài kệ về thiên văn học và thông  thạo tiếng Sanskrit; trước mười tuổi, ngài đã có khả năng phân biệt những giáo nghĩa Phật giáo với những gì không phải là Phật pháp.
   Theo phong  tục của thời đó, năm ngài mười một tuổi, vua cha đã sắp xếp cho ngài tham dự một buổi gặp gỡ với các thiếu nữ con em gia đình quý tộc để chuẩn  bị hôn  nhân,  hy vọng nhờ vậy mà có thể  cột chân ngài vào trách nhiệm thừa kế vương vị. Các văn bản Tây Tạng nhất trí rằng đêm trước buổi tiệc ấy, ngài Atisa được Đức Tara khai thị rằng ngài có nhiều tiền kiếp là một vị Tỳ-kheo tinh cần và rằng cuộc sống hôn nhân  của một  hoàng  tử quyền  thế  sẽ ngăn  cản con đường giác ngộ; do đó, ngài đã xin vua cha cho thực hiện một chuyến đi săn vào hôm sau.
   Trong cuộc đi săn, ngài gặp một vị Bà-la-môn là Jetari đang thực hành các hạnh ẩn tu của Phật giáo, được vị này cho quy y và thọ Bồ-tát giới rồi được gửi tới Nalanda để thọ nhận các giáo pháp cao sâu hơn. Tại Nalanda, ngài gặp được vị tu viện trưởng là Avadhutipa. Ngài Avadhutipa khuyên Atisha phải được cha mẹ chính thức chấp nhận cho từ bỏ mọi trách nhiệm của hoàng tộc trước khi xuất gia; do đó, ngài Atisha trở lại Kim Phan điện. Bằng nhiều phương tiện thiện xảo, cuối cùng ngài được phụ vương và hoàng hậu cho phép xuất gia. Ngài lập tức trở lại với tu viện trưởng Avadhutipa để học về Trung quán  luận và thực hành các mật chú. Trong khi thực hành, ngài có một thoáng  tự hào về những thành tựu của mình và lập tức tiếp nhận một linh kiến thanh  tịnh từ một vị dakini (không hành nữ) cho thấy những hiểu biết của ngài chưa có gì đáng kể. Từ đó, ngài luôn giữ hạnh khiêm cung.
   Đến năm hai mươi chín tuổi, ngài Atisha chính thức được ngài Silaraksita truyền giới Tỳ-kheo, được ban pháp danh Dipankara Srijnana, được ngài Dharmaraksita hết lòng truyền dạy mọi giáo pháp  của Phật giáo Nguyên thủy nhưng Atisha vẫn luôn khao khát những phương tiện trực tiếp để đạt tới sự chứng  ngộ  hoàn  toàn. Từ Nalanda, ngài hành hương đến Bodhgaya (Bồ-đề Đạo tràng); khi đi nhiễu quanh ngôi đại tháp, ngài lại có một linh kiến, thấy hai vị dakini trao đổi với nhau, cho rằng điều quan trọng nhất để đạt giác ngộ tối thượng là việc thực hành Bồ-đề tâm với sự nâng đỡ của tâm từ bi. Từ đó, ngài Atisha quyết tâm trau dồi trí tuệ và tâm từ bi.
   Vào năm  ba  mươi mốt  tuổi, Atisha sắp  xếp  một cuộc hành  trình mạo  hiểm đến  đảo  Sumatra  (thuộc Indonesia hiện nay) để cầu học với ngài Suvarnadvipi Dharmakirti, vị nổi tiếng  là người nắm  giữ mọi giáo huấn  về cách phát  triển Bồ-đề tâm. Cuộc hành  trình kéo  dài  mười  ba  tháng  với nhiều  gian  khổ  nhưng ngài Atisha không hề ngã lòng. Khi đã đến đảo, ngài Atisha dành  nửa tháng  để tìm hiểu về vị thầy trước khi bái kiến. Sau đó, ngài ở lại đảo suốt mười hai năm để nghiên  cứu Luận văn của các bậc thánh  Maitreya (Từ Thị), Nagarjuna  (Long Thọ), Asangha  (Vô Trước), Vasubhandu (Thế Thân), Chandrakirti (Nguyệt Xứng), và Shantideva (Tịch Thiên) dưới sự hướng dẫn của thầy. Cũng từ vị thầy này, ngài Atisha học được kỹ thuật thiền định đặc biệt về sau phát triển thành kỹ thuật Tongleng (Nhận và Cho) ở Tây Tạng, một kỹ thuật nhằm chuyển hóa mọi năng  lượng tiêu cực thành  năng  lượng yêu thương  và có khả năng  chữa trị. Sau khi trao truyền mọi sở học cho Atisha, ngài Suvarnadvipi Dharmakirti khuyên Atisha nên đến “vùng đất tuyết”, nhưng Atisha xin được trở về Ấn Độ.
   Trở lại Ấn Độ, đã bốn mươi lăm tuổi, ngài Atisha tìm đến tu viện Vikramasila ở cố hương và nhanh chóng giành được sự kính trọng của toàn thể giới học giả Phật giáo đương thời. Được thỉnh làm tu viện trưởng ở Vikramasila, ngài ra sức chấn chỉnh mọi hiện tượng suy đồi của Phật giáo. Sự trở về của ngài từ Sumatra thực sự có ảnh hưởng đến việc nảy nở của văn hóa Phật giáo và việc thực hành giáo pháp trong vùng lúc đương thời. Tuy nhiên, những thành tựu lớn nhất của ngài lại được dành cho người dân Tây Tạng, đúng  như lời khuyên của ngài Suvarnadvipi Dharmakirti trước lúc Atisha rời Sumatra. Khi đã năm mươi ba tuổi, ngài lại lên đường đến Tây Tạng.
   Phật giáo đã du nhập vào Tây Tạng từ thế kỷ thứ VII và với sự tích cực truyền giáo của ngài Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) ở thế kỷ thứ VIII thì Phật giáo Tây Tạng đã định hình, đẩy lùi ảnh hưởng mê tín của tín ngưỡng Bon bản địa. Tuy nhiên, sang đến thế kỷ IX, do sự bức hại của vị vua tiếm quyền là Langdharma, Phật giáo Tây Tạng suy thoái vì phải thỏa hiệp với những hành vi mê tín của tín ngưỡng  bản địa để tồn tại. Khi vương triều chính thống được phục hồi vào thế kỷ XI, nhà vua Jang Chub Wo khao khát chỉnh đốn Phật giáo. Nghe danh Atisha, nhà vua đã cất công thỉnh mời ngài. Ban đầu, ngài Atisha từ chối mọi đề nghị đến Tây Tạng vì khi ấy ngài đã luống tuổi. Tuy nhiên, ngài lại có một linh kiến từ Đức Tara rằng nếu ngài ở lại Ấn Độ thì ngài sẽ thọ đến 90 tuổi, còn nếu ngài đến Tây Tạng giúp họ phục hồi tinh thần Phật giáo thì ngài chỉ thọ tới ngoài 70 mà thôi. Với lòng từ, ngài nghĩ rằng tuổi thọ của mình không quan trọng bằng việc phục hưng Phật pháp cho Tây Tạng và ngài đã quyết định. Sau nhiều sự dàn xếp công phu, cuối cùng ngài Atisha đến Ngari, thủ phủ vương quốc mà vua Jang Chub Wo đang trị vì. Tại đây, Ngài Atisha được nhà vua thỉnh cầu giảng pháp cho dân Tây Tạng, một bài pháp không quá cao siêu, chỉ cần giúp người Tây tạng “thuần hóa được tâm mình và đối phó với những hành vi xung động hàng ngày cùng những hậu quả của chúng”. Cảm động trước sự chân thành của nhà vua, ngài Atisha đã thuyết những bài pháp căn bản, về sau được biên tập lại thành tập Đèn soi đường Giác ngộ.

III. Đèn soi đường Giác ngộ
   Theo các tài liệu thuộc  văn khố Tây Tạng trưng  dẫn  bởi  trang  mạng  của  Alexander Berzin thì sau khi vua Jang Chub Wo thỉnh cầu, ngài Atisha đã ở lại Ngari trong  khoảng  ba năm để giảng pháp   cho  đại  chúng;  về  sau,  những   bài  pháp   ấy được  soạn  lại thành  bản  văn  mang  tên  Sanskrit là Bodhipathapradipa, tên  Hán Việt là Bồ-đề đạo đăng luận, dịch ra tiếng Việt là Đèn soi đường Giác ngộ. Bản văn này được chính ngài Atisha soạn bằng ngôn ngữ Sanskrit; sau đó một vị Lạt-ma là Geway-Lodro đã dịch ra Tạng ngữ và được ngài Atisha hiệu đính trước khi phổ biến.
   Đèn soi đường Giác ngộ là một bản văn viết theo thể kệ tụng, ngoài lời tán dương  Đức Văn-thù đồng  tử ở đầu và lời xác nhận  trách nhiệm ở cuối thì nội dung chính gồm 67 bài kệ, mỗi bài kệ bốn câu. Nhiều nhà luận giải đã phân  tích nội dung  của bản văn. Có thể thấy việc phân  chia nội dung  bản văn làm sáu phần của Alexander Berzin mang tính hệ thống và sư phạm, như được giới thiệu sau đây:
   1. Hứa khả: Trong bốn bài kệ đầu, từ 1 đến 4, ngài Atisha kính lễ chư Phật ba đời mười phương, giáo pháp và tứ phương Tăng; xin chứng minh cho việc thắp đèn soi sáng con đường giác ngộ theo yêu cầu của người đệ tử tận tâm là vua Jang Chub Wo. Do loài người gồm có ba bậc là thấp, vừa và cao, tác giả sẽ trình bày con đường phù hợp căn tính của họ. Bậc thấp chỉ mong cải thiện hạnh phúc bản thân trong cõi luân hồi; bậc vừa đã khao khát được giải thoát khỏi mọi đau khổ trong cõi luân hồi.
   2. Bồ-đề tâm là lối vào cho người thượng trí: Bằng hai bài kệ thứ 5 và thứ 6, ngài Atisha xác định sẽ giải thích những phương pháp hoàn hảo đúng như đã được truyền dạy bởi những vị thầy của ngài dành cho người thượng trí là những ai mong muốn đoạn tận mọi đau khổ sinh tử chẳng những cho mình mà còn cho mọi người, những người khao khát đạt tới tuệ giác tối thượng; trước hết, người ấy phải phát Bồ-đề tâm, tâm cầu tìm sự giác ngộ tối thượng để có thể cứu giúp mọi chúng
   3. Nghi lễ phát Bổ-đề tâm cùng lời khuyên: Qua mười hai bài kệ từ thứ 7 đến thứ 18, tác giả giải thích nghi lễ phát Bồ-đề tâm dựa trên những văn bản quan trọng của Đại thừa Phật giáo như phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa Nghiêm, luận Nhập Bồ-tát hạnh của ngài Shantideva… Theo đó, hành giả phải đến trước tranh, tượng, tháp… của Phật để dâng hương hoa vật phẩm cúng dường theo khả năng và thành tâm hiến cúng bảy lời nguyện đối với ý chí đạt tới giác ngộ (gồm đảnh lễ Tam bảo, sám hối các hành vi bất thiện, cúng dường, hoan hỷ với công hạnh của người khác, thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế và hồi hướng công đức); tiếp theo, với tâm không thoái chuyển cho đến khi thành tựu giác ngộ, hành giả khẳng định niềm tin vào Tam bảo bằng cách chắp tay quỳ lạy ba lần làm lễ quy y; kế đó, với tâm từ bi hướng đến vô lượng chúng sinh, hành giả khẳng định sự cứu giúp không chừa một ai đang chịu đau khổ trong ba cõi hoặc đang trong hành trình chuyển hóa giữa các cõi; thế rồi với mong muốn tất cả những chúng sinh đang đau khổ đó được giải thoát, hành giả phát khởi tâm Bồ-đề không bao giờ lui sụt của mình. Ngài Atisha giải thích tiếp rằng lợi ích của việc phát khởi Bồ-đề tâm như vậy là không thể nghĩ bàn; ví như có người dùng mọi loại châu báu trang nghiêm thanh  tịnh các cõi Phật nhiều như số cát sông Hằng thì công đức ấy cũng không bằng người thành kính chắp tay hướng tâm mình đến tâm Bồ-đề.
   4. Phát khởi Bồ–đề tâm: Bằng mười ba bài kệ tiếp theo, từ 19 đến 31, ngài Atisha lưu ý hành giả phải dấn thân thọ giới, thực hành sáu Ba-la-mật; sau khi phát khởi Bồ- đề tâm, chỉ những hành giả dấn thân  thọ Bồ-tát giới mới có khả năng làm tăng tiến Bồ-đề tâm của mình. Để đủ điều kiện thọ Bồ-tát giới, hành giả phải nguyện giữ một trong bảy bộ giới của người xuất gia. Chư Phật đã xác định việc giữ giới thanh  tịnh là cao cả nhất. Hành giả phải thọ  giới từ một  bậc minh sư có những  đức tính thích hợp. Nhưng nếu như hành giả đã cầu tìm mà không gặp được minh sư thì có một nghi thức khác để thọ giới đúng cách, như đã được ghi trong kinh Trang nghiêm cõi Phật Văn-thù; lời phát nguyện của một hành giả phát tâm cầu Vô thượng  Bồ-đề theo kinh này được ghi lại trong các bài kệ thứ 26 đến 31.
   5. Thực hành Bồ-tát hạnh: Trong hai mươi bảy bài kệ kế tiếp, 32 đến 58, ngài Atisha nói về việc thực hành Bồ-tát hạnh, nghĩa là rèn luyện Giới, Định và Tuệ. Về giới, hai đoạn kệ 32 và 33 chỉ nhắc nhở rằng với người biết sống theo những hạnh nguyện của việc phát khởi Bồ-đề tâm, nghĩa là biết thanh tịnh thân khẩu ý, giữ gìn giới hạnh Bồ-tát, thì sẽ có đủ tư lương cho việc đạt tới tuệ giác hoàn toàn. Các bài kệ từ thứ 34 đến thứ 41 nhắc nhở rằng nhân duyên làm sung mãn tư lương Phước Tuệ là nhờ có Định; như chim non không đủ hai cánh thì không thể bay, hành giả thiếu Định thì không thể làm lợi lạc chúng sinh; một người có định tu tập công đức trong một ngày một đêm còn hơn người không có định tu tập suốt trăm kiếp sống; mà muốn có định thì tâm phải an trú; vì thế, hành giả hãy gìn giữ những yếu tố được nêu trỏ trong chương Hành trình của Định để đặt tâm của mình vào một trong những đối tượng thích hợp cho sự tập trung; chỉ khi hành giả đạt tới sự dừng lặng của tâm thì mới có thể đạt được định; nhưng nếu có định mà không có tuệ giác thì vẫn chưa tiêu diệt được mọi chướng ngại. Việc rèn luyện tuệ giác được trình bày trong các bài kệ từ 42 đến 58 với dẫn chứng từ Bảy mươi bài kệ về tính Không và Những kệ tụng căn bản của Trung luận. Để tiêu diệt mọi chướng ngại liên quan đến các tình thức và những hiện tượng khả tri, hành giả phải luôn luôn thiền định về tuệ giác viên mãn bằng những phương tiện thiện xảo. Chư Phật dạy rằng phương tiện thiện xảo chính là các Ba-la-mật từ bố thí đến thiền định; phải vận dụng các phương tiện thiện xảo mới đạt tới vô thượng  Bồ-đề chứ không chỉ nhờ quán vô ngã mà có tuệ giác toàn hảo được. Khi quán chiếu, hành giả thấy được uẩn, căn, trần, thức, xứ đều không tự sinh ra. Sự vật không tự sinh, cũng không sinh từ yếu tố bên ngoài, cũng không do vừa tự sinh vừa từ yếu tố bên ngoài mà xuất hiện, nhưng cũng không thể sinh ra mà không có yếu tố bên ngoài. Quán chiếu các pháp, dù là đồng nhất hay dị biệt, cũng thấy không pháp nào hiện hữu độc lập, nhờ đó hiểu rõ các pháp hoàn toàn không có tự tánh. Nhờ quán vô ngã mà thấy sự vật không có tự tánh, gọi là tu Tuệ. Từ đó, thấy chính trí tuệ cũng không có tự tánh, thấy toàn bộ cõi sống đều phát sinh từ những khái niệm. Đức Phật dạy rằng khái niệm phân biệt là đại vô minh đưa con người vào luân hồi sinh tử; tách lìa phân biệt, vào được định vô niệm thì cảnh giới siêu việt khái niệm hiện ra hoàn toàn trong sáng như bầu trời. Trong Nhập Vô Niệm định Đà-la-ni, Ngài cũng nói rằng nếu vị Pháp vương tử lìa tâm phân biệt để quán chiếu thì dù khái niệm khó vượt đến đâu cũng tuần tự vượt qua được để vào cảnh giới siêu việt khái niệm. Khi hành giả đã nhờ văn tư tu mà biết rõ mọi sự đều không có tự tánh thì hãy quán đến trạng thái không có tưởng phân biệt.
   6. Hiển lộ kết quả: Chín bài kệ cuối cùng từ 59 đến 67 nói về kết quả của con đường tu tập. Nhờ quán cảnh giới chân thật,  trạng  thái không  có tưởng  phân  biệt, hành giả tuần tự tiến trên đường  giác ngộ, thành  tựu “nội hỏa”, “đại lạc” và các trạng thái khác rồi sẽ đạt tới vô thượng Bồ-đề. Nếu muốn mau chóng tích tập tư lương, hành giả cũng có thể nương nhờ vào năng lực của minh chú và các phương  tiện của Mật tông, nhưng nếu thế, hành  giả cần có minh sư hoan  hỷ ban  cho đại pháp Quán đảnh. Lưu ý rằng trong Đại Mật kinh, Đức Phật tối sơ đã nghiêm  cấm các vị xuất gia thọ các phép  Quán đảnh Bí mật và Quán đảnh Trí tuệ trừ khi có được sự gia trì của một vị minh sư.

IV. Di sản của ngài Atisha
   Lịch sử văn học Phật giáo Tây Tạng cho thấy Đèn soi đường Giác ngộ của ngài Atisha đã là nền tảng  cho nhiều bản văn vạch rõ đường  tu tuần tự của những  tông phái tiếp sau. Chỉ riêng điều đó cũng thấy rằng ảnh hưởng của ngài Atisha đối với Phật giáo Tây Tạng là rất lớn; vì vậy, người Tây Tạng tôn kính ngài như tôn  kính Đức Padmasambhava, người đầu tiên phổ biến Phật giáo cho dân chúng Tây Tạng.
   Về mặt hoằng  pháp, ngài Atisha là người đầu tiên đưa giáo nghĩa của Phật giáo Đại thừa đến Tây Tạng. Một vị đệ tử cư sĩ của ngài là Dromtonpa  đã sáng lập tông phái Kadampa; sau này, ngài Tsongkhapa đã tiếp thu giáo pháp  của Kadampa để thành  lập tông  phái Gelugpa có người tiếp đăng là những vị Dalai Lama.
   Sau ba năm ở Ngari, ngài đã đến Nyetang, một thành phố nhỏ gần Lhasa, ở miền Trung Tây Tạng và lưu lại đó thêm chín năm nữa. Tại đây, ngài phát hiện một thư viện có tàng  trữ rất nhiều kinh sách cả bằng  tiếng Sanskrit lẫn một số kinh sách đã được dịch ra Tạng ngữ. Ngài đã biên soạn, biên tập và phiên dịch trên hai trăm tác phẩm liên quan đến giáo pháp của Đức Phật từ tiếng Sanskrit ra tiếng Tây Tạng để truyền bá Phật pháp. Không những thế, ngài còn sưu tập và biên soạn những tài liệu về y học và dược liệu thông  dụng của người Tây Tạng. Ngoài ra, ngài còn có năm năm vân du nhiều nơi khắp cõi Tây Tạng. Ngài viên tịch vào năm 1054, thọ 72 tuổi, đúng như linh kiến mà ngài thọ nhận từ Đức Tara. Nhục thân của ngài được thờ phụng tại Nyetang.
   Những đóng  góp cho Phật giáo của ngài Atisha là rất lớn và chưa được đánh giá đầy đủ. Tháng 1-2013, một hội nghị quốc tế về ngài Atisha đã được tổ chức tại Trung tâm Quốc gia về Nghệ thuật Indira Gandhi ở New Delhi (Ấn Độ) với sự tham dự của các học giả Phật giáo khắp nơi trên thế giới. Các học giả nhất trí rằng giáo pháp của ngài Atisha vẫn còn nhiều giá trị đối với cuộc sống hiện đại của thế giới loài người và là những điều còn cần được khai phá tiếp tục. ■
Tác giả: PHẠM  CHÁNH  CẦN
Nguồn: Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 198
  • Copyright © 2018 Chùa Minh Đạo
  • Ghi rõ nguồn Chùa Minh Đạo khi sử dụng thông tin từ website này