Tác phẩm, tham luận của HT Trụ Trì

Phật giáo Nam tông Khmer kế thừa, thành tựu và phát triển
04:49 | 23/06/2019 (GMT+7)
Theo truyền sử, đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long) đã định cư lâu đời trên phần đất cổ này, trước nhất là tập hợp quần cư ở những gò đất cao, giồng cát nổi, cuối cùng là vùng đất trũng. Trong đó những thế kỷ đầu, đồng bào sống theo tín ngưỡng dân gian, thờ ông Tà - Arach, bình vôi, ông Táo. Những thế kỷ tiếp theo là đạo Bà-la-môn do các thương nhân người Ấn mang đến, xâm nhập vào các tỉnh ven biển như Hà Tiên, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh, Mỹ Tho, Gia Định, Thuận Thành (Ninh Thuận, Bình Thuận)… theo tín ngưỡng Linga thờ thần Shivar (Thần hủy diệt), thần Vishnu (Thần ban phước lành). Những thế kỷ kế là đạo Phật Thượng tọa bộ xuất phát từ Nam Ấn theo cửa sông Naramada dọc ven biển đến Việt Nam. Những ngôi chùa được xây dựng sớm nhất là chùa Tropengveng (313 TL) và chùa Sambuarangsay (373 TL) tại Trà Vinh.
Đạo Phật phái Thượng tọa bộ (về sau gọi chung là phái Mahanikaya) truyền vào Campuchia từ Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan vào thế kỷ XIV (1307) dưới thời vua Thất-lị-nhân Đà-la-bạt-ma. Tuy nhiên, tại Thái Lan, vào năm 1829 có vị Sãi cả tên Preah Saukon từ bỏ phái Đại chúng (Mahanikaya), tiến hành thành lập phái Thommayutt, được sự ủng hộ của Hoàng gia Mong Kut Ramma IV và tiếp tục truyền sang Campuchia vào năm 1864. Đến năm 1890, Hoàng tộc Campuchia phái một số Sư sãi phái Thommayutt sang truyền đạo ở Việt Nam, chủ yếu là tỉnh An Giang, Kiên Giang, hình thành một ngôi chùa tiêu biểu là Prey Veng ở huyện Tri Tôn - Châu Đốc và một số chùa khác. Mở đầu cho Phật giáo Nam tông Khmer có hai phái: Phái Maha Nikaya và Thommayutt. Nhưng phái Maha Nikaya (phái Đại chúng) chiếm đa số tại Việt Nam.
Năm 1957, Cư sĩ Sơn Thái Nguyên, một Sãi cả tu xuất năm 1954 làm công chức cho chính phủ, đã đứng ra xin phép Bộ Nội vụ Chính phủ Việt Nam Cộng hòa thành lập phái Phật giáo Theraveda (Phật giáo Nguyên thủy). Như vậy, các Sư sãi người Việt gốc Khmer và cả Khmer nguyên thủy đều nằm trong tổ chức giáo phái này. Tuy nhiên, chư vị vẫn quy hướng về Vua Sãi từ Campuchia ở Phnom Penh vẫn là chính, cụ thể là thời Vua Sãi Huôn Tat và Chuôn Natt (1920-1950). Nói khác đi, là tùy thuộc hoàn toàn vào Vua Sãi Phật giáo Campuchia và Chính phủ Hoàng gia Campuchia. Do đó, để tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa Phật giáo Nam tông Nguyên thủy Việt Nam với Phật giáo Vương quốc Campuchia, được sự đỡ đầu của Vua Sãi và sự hỗ trợ hoàn toàn của Chính phủ Hoàng gia, nên tại Việt Nam các tỉnh đều thành lập Hội đồng Kỷ luật (Mekon), gồm sáu chức sắc:
1. Mekon: Sãi cả quản lý một tỉnh, thành phố, có nhiệm vụ phổ biến giáo lý, quyết định các công việc của chư Tăng, của các chùa trong tỉnh, thành phố hoặc với chính quyền địa phương của tỉnh, thành phố và cả Vua sãi, Chính phủ Hoàng gia Campuchia.
2. Một hay hai Balakon: Phó sãi, phụ tá với Sãi cả, có nhiệm vụ xây dựng giáo lý, giảng dạy cho các Tỳ-kheo, Sa-di, học sinh Phật tử, sắp xếp tổ chức các lễ hội của chùa và của đồng bào dân tộc, kiến thiết chùa chiền…
3. Vineytharkon: Vị Sãi cả phụ trách về Luật (Giám luật).
4. Samouhakon: Vị Sãi cả phụ trách về văn khố.
5. Lekhathika: Thư ký.
6. Một hay hai Anonkon: Vị Sãi cả phụ trách một quận hay một huyện.
Những tỉnh, thành, quận, huyện có nhiều chùa, thì mỗi chùa thành lập một Ban Quản trị, giúp việc cho chư Tăng, hộ trì Tam bảo.
Ban Quản trị có từ năm vị hay nhiều hơn, gồm: Trưởng ban (Chủ tịch), hai Phó ban (hai Phó Chủ tịch), Tổng Thư ký, hai Phó Tổng Thư ký, Thủ quỹ, Phó Thủ quỹ, hai Kiểm soát, một phụ trách Nghi lễ, một phụ trách Hoằng pháp, một Tổ chức và nhiều cố vấn. Do đó, chư Tăng khi thụ giới, tu học đều phải sang Phnom Penh tu học. Sau khi hoàn tất chương trình thì trở về Việt Nam hành đạo. Khi xây dựng chùa chiền, đều phải trình Vua Sãi Campuchia cho phép và thỉnh Vua Sãi hoặc Phó Vua Sãi sang Việt Nam làm lễ Sima và đặt tên chùa mới hợp pháp. 
Đến năm 1960, khi quan hệ giữa Việt Nam Cộng hòa và Vương quốc Campuchia bị cắt đứt thì sự trợ giúp trực tiếp giữa Vua Sãi và Chính phủ Hoàng gia không còn. Tuy nhiên, các tổ chức Mekon tại một số tỉnh, thành phố Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì để sinh hoạt Tăng sự được hanh thông và có hiệu quả cho đến năm 1975. Để bù đắp lại khoảng trống này, đồng thời giảm bớt ảnh hưởng quan hệ quá tùy thuộc vào Vương quốc Campuchia trước đây, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã giúp đỡ Hội Phật giáo Theravada (Mekon Nam Bộ) thành lập Trường Cao đẳng Pali, gồm hai cấp: Trung đẳng và Cao đẳng tại chùa Ông Mẹt (Meas) (Wattkompong) tỉnh lỵ Phú Vinh - Vĩnh Bình, nay là thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. Trường hoạt động đến năm 1975 thì ngưng hoạt động. Đến năm 2013, Phật giáo Nam tông Khmer kết hợp cùng Trường Đại học Trà Vinh thành lập Trường Trung cấp Pali tỉnh Trà Vinh.
Một điều đáng nói là ngày 22/12/1960 tại khu căn cứ Dương Minh Châu biên giới tỉnh Tây Ninh, Mật trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, thì Hòa thượng Sơn Vọng người Trà Vinh là hàng giáo phẩm cấp cao của Phật giáo Nam tông Khmer tham gia Mặt trận, với chức vụ là Phó Chủ tịch. Sau khi Hòa thượng viên tịch thì Hòa thượng Hữu Nhem người xứ Cà Mau thay thế.
Như vậy vào thời điểm này, Phật giáo Nam tông Khmer hoạt động trong hai giới tuyến vùng địch tạm chiếm và vùng giải phóng cũng như vùng xôi đậu cho đến ngày 30/4/1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thành lập nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1976).
Trong phong trào đấu tranh của Phật giáo miền Nam năm 1963, Phật giáo Nam tông Khmer đã tích cực tham gia Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo, bao gồm các giáo phái Phật giáo tại miền Nam, do Hòa thượng Thích Tâm Châu - Phó Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam làm Chủ tịch. Hòa thượng Lâm Em, Tăng trưởng Phật giáo Nam tông Khmer, trú xứ chùa Chatarangsay, Quận 3, Sài Gòn tham gia cố vấn cho Ủy ban. Cư sĩ Sơn Thái Nguyên đại diện Phật tử Nam tông Khmer tham gia làm Ủy viên Thường trực của Ủy ban.
Tại các tỉnh, thông qua sự lãnh đạo của các Mekon, hưởng ứng phong trào theo sự chỉ đạo của Trung ương. Một điểm thuận lợi khác, bên trong và phía sau còn được sự ủng hộ và chỉ đạo của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước, do Hòa thượng Thạch Xom trú xứ tỉnh Trà Vinh làm Phó Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam khu Tây Nam Bộ làm Chủ tịch, Hòa thượng Sơn Vọng, Phó Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam làm Chủ tịch danh dự, góp phần thành công cho phong trào đấu tranh của Phật giáo miền Nam, đưa đến chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm bị sụp đổ, tự do tín ngưỡng tôn giáo được tôn trọng và phát triển trong tinh thần bình đẳng các tôn giáo tại miền Nam Việt Nam.
Tiến thêm một bước, để tạo thành một khối Phật giáo thống nhất hai Hệ phái Nam Bắc tông và các đoàn thể Phật giáo khác tại miền Nam, Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam ngày 01/01/1964 tại chùa Xá Lợi, Quận 3, Sài Gòn do Hòa thượng Thích Tâm Châu, Chủ tịch Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo làm Trưởng ban Tổ chức. Đại hội thành lập GHPGVNTN, thông qua Hiến chương và suy cử hai Viện Tăng thống và Viện Hóa đạo cùng các Tổng vụ.
Tham dự Đại hội, phái đoàn Phật giáo Nam tông Khmer gồm có: Hòa thượng Lâm Em, Đại đức Thạch Gồng, ĐĐ.Thạch Reach, ĐĐ.Kim Sang, ĐĐ.Kien Phum, ĐĐ.Danh Bao, ĐĐ.Danh Srum, ĐĐ.Thạch Pêch, ĐĐ.Thạch Suông, ĐĐ.Sơn Sương, ĐĐ.Châu Lun, ĐĐ.Tăng Kim… ĐĐ.Sơn Sun, Cư sĩ Sơn Thái Nguyên là thành viên của đoàn. HT.Lâm Em được Đại hội suy tôn làm Trưởng lão Viện Tăng thống, ĐĐ.Thạch Gồng được suy cử làm Phó Thư ký Viện Tăng thống, ĐĐ.Kim Sang làm Vụ trưởng Tăng bộ Nam tông vụ thuộc Tổng vụ Tăng sự, Cư sĩ Sơn Thái Nguyên làm Vụ trưởng Thiện tín Nam tông vụ thuộc Tổng vụ Cư sĩ.
Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam sum họp một nhà, các tổ chức chính trị xã hội đều thống nhất thành một mối. Đấy là cơ duyên để Phật giáo cả nước thống nhất thành một tổ chức duy nhất. Năm 1980, sau nhiều phiên họp hiệp thương tại TP.Hồ Chí Minh, kết quả một Ban Vận động do HT.Thích Trí Thủ - Viện trưởng Viện Hóa đạo GHPGVNTN làm Trưởng ban Vận động, HT.Châu Mum - Hội trưởng Hội Sư sãi Yêu nước miền Tây Nam Bộ làm Phó ban Vận động.
Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 07/11/1981, tại chùa Quán Sứ, thủ đô Hà Nội, Đại hội Thống nhất Phật giáo cả nước thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đại hội suy tôn Hòa thượng Thích Đức Nhuận làm Pháp chủ, Phật giáo Nam tông Khmer có Hòa thượng Ma Ha Sa Rây, Hòa thượng Thạch Xom làm Phó Pháp chủ. Suy cử Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Chủ tịch Hội đồng Trị sự, Phật giáo Nam tông Khmer có Hòa thượng Châu Mum làm Phó Chủ tịch. Tại Đại hội, HT.Dương Nhơn đại diện Hội Sư sãi Yêu nước miền Tây Nam Bộ đã đọc tham luận, có đoạn: “Vô cùng phấn khởi đến dự Hội nghị thống nhất Phật giáo Việt Nam, thay mặt Hội Sư sãi Yêu nước miền Tây Nam Bộ, trên mười ngàn Đại đức, chư Tăng và hơn một triệu tín đồ Phật tử, xin kính chúc Hội nghị thành công tốt đẹp. Hội nghị của chúng ta hôm nay là một sự kiện lịch sử có ý nghĩa vô cùng trọng đại đối với Phật giáo Việt Nam và cũng là lần đầu tiên đại diện các Hệ phái Phật giáo chúng ta ngồi lại cùng nhau bàn bạc để đi đến thống nhất giềng mối Phật giáo nước nhà, được thể hiện qua bản Hiến chương và Thông bạch của Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam… Do đó, Phật giáo Nam tông Khmer chúng tôi xin giới thiệu các vị đại diện vào trong GHPGVN, để tăng thêm sức mạnh tổng hợp của Phật giáo cả nước. Phật giáo Việt Nam nói chung đã có truyền thống đấu tranh giải phóng dân tộc, chắc chắn khi được thống nhất về một tổ chức, về ý chí và hành động sẽ có nhiều điều kiện góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa…” 
Với tư cách là thành viên sáng lập GHPGVN qua hơn 35 năm kế thừa, thành tựu và phát triển, Phật giáo Nam tông Khmer tham gia đầy đủ trên các cơ quan như Hội đồng Chứng minh có HT.Thạch Xom, HT.Mahasaray, HT.Danh Nhưỡng, HT.Dương Nhơn - Phó Pháp chủ; HT.Cả Bi, HT.Chau Ty, Chau Tinh, HT.Thạch Hạnh, HT.Kim Sa Rinh, HT.Lý Liêu, HT.Diệp Thương, HT.Sơn Khune, HT.Thạch Hu, HT.Danh Pol, HT.Lý Sân, HT.Thạc Chương, HT.Sơn Pen, HT.Trần Phiên - Thành viên HĐCM; Hội đồng Trị sự có: HT.Châu Mum, HT.Dương Nhơn, HT.Thạch Sok Xane - Phó Chủ tịch; HT.Đào Như - UV. Thư ký; HT.Thạch Huônl, HT.Danh Đổng, HT.Danh Lung - UV. Thường trực; HT.Lý Xa Muoth, HT.Thạch On, HT.Tăng Nô, HT.Lâm Pậu, HT.Thạch Sên, HT.Danh Lân, HT.Thạch Oai, HT.Danh Thiệp, HT.Diệp Tươi, HT.Chau Sơn Hy, HT.Thạch Hà, HT.Trần Kiến Quốc TT.Sơn Ngọc Huynh, TT.Lý Hùng, TT.Lý Vệ, TT.Quách Thành Sattha, TT.Trần Văn Tha, ĐĐ.Danh Phản, ĐĐ.Trần Phương, ĐĐ.Châu Hoài Thái, ĐĐ.Thạch Nê, ĐĐ.Danh Nâng. Trong 13 ban, viện Trung ương Giáo hội, phân ban, phân viện đều có sự tham gia của chư Tôn đức Phật giáo Nam tông Khmer. Tại 34 tỉnh thành Phật giáo phía Nam, nhất là 13 tỉnh, thành đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, chư tôn đức giáo phẩm Phật giáo Nam tông Khmer đều có tham gia Ban Thường trực Ban Trị sự với chức vụ Trưởng ban, Phó ban, Ủy viên Thường trực, và Ủy viên Ban Trị sự phụ trách Phật giáo Nam tông Khmer tại địa phương. Đồng thời, có sự kết hợp với Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước các tỉnh, thành, là thành viên trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần đẩy mạnh các công tác Phật sự của Hệ phái nói riêng, các tỉnh, thành Phật giáo nói chung đạt kết quả tốt đẹp hữu hiệu, thực hiện phương châm hoạt động của Giáo hội: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”.
Trên lĩnh vực văn hóa giáo dục, hiện nay Phật giáo Nam tông Khmer có một Học viện (Đại học Phật giáo Nam tông Khmer đặt tạm tại chùa Pothisomrom, quận Ô Môn, TP.Cần Thơ), đã và đang đào tạo ba khóa. Có trên 65 Tăng sinh tốt nghiệp cử nhân Phật học, 36 Tăng sinh đang theo học cấp cử nhân Phật học. Học viện liên kết với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Khoa Tôn giáo học - Hà Nội mở lớp đại học hệ vừa làm vừa học cho Tăng sinh - sinh viên, có 65 học viên theo học tại Học viện; đồng thời nhiều Tăng sinh được cử đi du học tại Thái Lan, Campuchia, Myanmar, Sri Lanka, Ấn Độ…
Với hệ thống sáu trường trung cấp Phật học, trong đó có Trường Trung cấp Pali Nam Bộ đặt tại chùa KhLeang, TP.Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng và 73 lớp sơ cấp Pali, Vini đã giúp cho hơn 2.700 Tăng sĩ có trình độ trung cấp Phật học và hơn 2.750 Tăng sĩ đang theo học các chương trình. Nhất là chương trình đại học quốc dân tại Đại học Cần Thơ, Trà Vinh, Vĩnh Long, Bạc Liêu, TP.Hồ Chí Minh…
Với sự giúp đỡ của Chính phủ, đã in 35 đầu sách bằng chữ Khmer, hơn 1.150.000 bản, cùng 350 bộ Đại tạng kinh chữ Khmer để phân bố cho các chùa Phật giáo Nam tông Khmer trong khu vực có tài liệu nghiên cứu, đọc tụng và học tập.
Để giúp cho Hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer hoạt động có hiệu quả đồng bộ trong ngôi nhà chung GHPGVN, được chủ trương của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương MTTQVN, Ủy ban Dân tộc và Miền núi và Ban Tôn giáo Chính phủ, Trung ương GHPGVN cứ hai năm một lần tổ chức Hội nghị Chuyên đề Phật giáo Nam tông Khmer để đánh giá công tác hoạt động trong thời gian qua, thảo luận thông qua chương trình hoạt động trong thời gian tới. Lần thứ I (2004) tổ chức tại Sóc Trăng, lần thứ II (2006) tổ chức tại TP.Cần Thơ, lần thứ III (2008) tổ chức tại Bạc Liêu, lần thứ IV (2010) tổ chức tại Kiên Giang, lần thứ V (2012) tổ chức tại Trà Vinh, lần thứ VI (2014) tại An Giang, lần thứ VII (2016) tổ chức tại Hậu Giang và lần thứ VIII (2018) tổ chức tại Cà Mau.
Đặc biệt, trong thời kỳ hội nhập và phát triển của thế giới ngày nay, GHPGVN cần có sự đối tác ngoại giao với các nước trong khu vực, nhất là Thái Lan, Campuchia, Lào, Myanmar, Sri Lanka, Ấn Độ… hình thức Phật giáo Nguyên thủy còn tồn tại đậm nét ban sơ. Do đó, Phật giáo Nam tông Khmer trong lòng GHPGVN sẽ là một nối kết quan trọng trên trường quốc tế. Qua đó cũng cho thế giới thấy được tính đặc thù của GHPGVN là một tổ chức Giáo hội bao gồm các truyền thống Hệ phái Phật giáo Bắc tông, Nam tông Khmer, Nam tông Kinh, Phật giáo Khất sĩ, Phật giáo người Hoa đoàn kết hòa hợp trong ngôi nhà chung Phật giáo Việt Nam. Các pháp môn truyền thống tu học biệt truyền đúng Chánh pháp của các Hệ phái Phật giáo được duy trì và phát triển ổn định như Hiến chương GHPGVN đã qui định, góp phần phát triển cộng đồng dân tộc Việt Nam, văn hóa dân tộc Khmer tại Việt Nam và cộng đồng quốc tế trong tinh thần Phật giáo, xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh tiến bộ trong thời kỳ hội nhập thế giới ở thế kỷ XXI và những thế kỷ tiếp theo của Phật giáo Việt Nam trong đó có Phật giáo Nam tông Khmer - thành viên sáng lập, hoạt động hài hòa đoàn kết thống nhất trong lòng Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở hiện tại và tương lai. 

Tài liệu tham khảo:
1. Kỷ yếu Đại hội GHPGVNTN (1964).
2. Kỷ yếu Đại hội GHPGVN (1981).
3. Kỷ yếu Hội thảo 30 năm thành lập GHPGVN (1981 - 2011).
3. Tài liệu Hội nghị Chuyên đề PGNT Khmer lần thứ 1 - 5 (2004-2012).
5. Phật giáo Khmer Nam Bộ - Những vấn đề cần nhìn lại (Viện Nghiên cứu Tôn giáo - Nguyễn Mạnh Cường, 2008).
6. Người Khmer Nam Bộ - Tạp chí Xưa và Nay (2003).
7. Người Việt gốc Khmer - Lê Hương (1969).
8. Hành hương đất phương Nam (Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam - Phân viện tại TP.Hồ Chí Minh, 2003).
9. Địa chí Văn hóa - Lịch sử TP.Hồ Chí Minh (tập 1).
10. Tài liệu Hội thảo “Mối quan hệ Phật giáo 3 nước Việt Nam - Campuchia - Lào, quá khứ và hiện tại” (Ban Tôn giáo Chính phủ, 2013).
Nguồn: Sách Những đóa hoa Phật giáo Việt Nam
  • Copyright © 2019 Chùa Minh Đạo
  • Ghi rõ nguồn Chùa Minh Đạo khi sử dụng thông tin từ website này