Tác phẩm, tham luận của HT Trụ Trì

  • Phật giáo Nam tông Khmer kế thừa, thành tựu và phát triển

    Theo truyền sử, đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long) đã định cư lâu đời trên phần đất cổ này, trước nhất là tập hợp quần cư ở những gò đất cao, giồng cát nổi, cuối cùng là vùng đất trũng. Trong đó những thế kỷ đầu, đồng bào sống theo tín ngưỡng dân gian, thờ ông Tà - Arach, bình vôi, ông Táo. Những thế kỷ tiếp theo là đạo Bà-la-môn do các thương nhân người Ấn mang đến, xâm nhập vào các tỉnh ven biển như Hà Tiên, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh, Mỹ Tho, Gia Định, Thuận Thành (Ninh Thuận, Bình Thuận)… theo tín ngưỡng Linga thờ thần Shivar (Thần hủy diệt), thần Vishnu (Thần ban phước lành). Những thế kỷ kế là đạo Phật Thượng tọa bộ xuất phát từ Nam Ấn theo cửa sông Naramada dọc ven biển đến Việt Nam. Những ngôi chùa được xây dựng sớm nhất là chùa Tropengveng (313 TL) và chùa Sambuarangsay (373 TL) tại Trà Vinh.

  • Phật giáo Hoa tông theo dòng lịch sử

    Vào thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725), thỉnh thoảng đã có những đoàn người Hoa từ Quảng Đông, Phúc Kiến, và đảo Hải Nam dong thuyền sang Đàng Trong (Việt Nam); chúa Nguyễn đã cho họ định cư rải rác cùng với người Việt từ Thuận Quảng di cư vào vùng đất mới ở Đồng Nai, Gia Định, Mỹ Tho, Trà Vinh, Hà Tiên. Cao điểm là phong trào Phản Thanh phục Minh năm 1697 do Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên lãnh đạo, do đó số lượng người Hoa sinh sống ở Đàng Trong ngày càng đông.

  • Tông Thiên Thai Thiền giáo Liên hữu hội theo dòng lịch sử

    Tông Thiên Thai Thiền Giáo Liên hữu hội, gọi tắt là tông Thiên Thai Thiền Giáo, do Tổ Huệ Đăng (1873-1953), pháp húy Thanh Kế khai sáng. Tổ thế danh Lê Quang Hòa, người huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn), tỉnh Bình Định, xuất gia năm 1900 với Hòa thượng Hải Hội Chánh Niệm (1834-1905), trụ trì chùa Long Hòa, Bà Rịa. Tổ thuộc Thiền phái Liễu Quán đời thứ 41. Tổ Liễu Quán húy Thật Diệu đời thứ 35 sáng lập Thiền phái và truyền thừa theo bài kệ do Tổ biệt truyền:

  • Tông Thiên Thai Giáo Quán trong dòng chảy lịch sử Phật giáo Việt Nam tại Trung Quốc

    Sơ tổ của Tông phái Thiên Thai người Việt Nam tại Trung Quốc là Hòa thượng Hiển Kỳ, thế danh Trần Quốc Lượng (1883 - 1936), sinh năm Quý Hợi (1883) tại xóm Rạch Quau, huyện Cần Giuộc, tỉnh Gia Định, nay là tỉnh Long An. Ban đầu ngài theo đạo Minh Sư, về sau phát tâm quy y theo đạo Phật. Năm Nhâm Tuất (1922), ngài sang Hồng Kông Trung Quốc, cầu pháp xuất gia với Đại sư Đế Nhân tại chùa Quán Tông giảng tự, Triết Giang-Trung Quốc. Sau đó ngài trở lại Hồng Kông đổi Thuần Dương cung thành Thiền viện Thanh Sơn. Năm Nhâm Thìn (1933), ngài khai Đại Giới đàn tại Thiền viện Thanh Sơn. Trong giới đàn này có những Tăng Ni Việt Nam sang thọ giới như Thiền sư Liễu Thiền, Liễu Đàn, Liễu Lạc, Liễu Học, Liễu Chứng, Liễu Tướng…

  • Thiền phái Trúc Lâm trong lịch sử Thiền học Phật giáo Việt Nam

    Đạo Phật truyền vào Việt Nam từ Ấn Độ bằng đường biển vào cuối thế kỷ II (189 TL) như lịch sử cho thấy khởi đầu từ Khâu Đà La, Mâu Bác, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương Tiếp, Đại Thừa Đăng, Đàm Hoằng, Huệ Thắng, Đạo Thiền đã đặt nền móng cơ bản cho Phật giáo Việt Nam trong những thế kỷ đầu. Nhất là Thiền học Việt Nam khởi nguồn từ Khương Tăng Hội ở thế kỷ III (251 TL), Đạo Thiền (527 TL) là kết thúc giai đoạn đầu của lịch sử, với các kinh điển được lưu hành như: Lục độ tập, Thí dụ, Cựu Tạp thí dụ, Tứ thập nhị chương, Pháp cú, Niết-bàn, Pháp hoa tam muội, Vô lượng thọ, Kim cương, An ban thủ ý… Đặc biệt, Thiền sư Đàm Hoằng từ Trung Hoa đến hành đạo tại chùa Tiên Sơn (Phật Tích - Bắc Ninh) vào năm 425, ngài thọ trì kinh Vô lượng thọ và kinh Thập lục quán. Ngài viên tịch vào năm 455 bằng cách tự thiêu thân tại chùa Tiên Sơn - Bắc Ninh.

  • Từ viện Quỳnh Lâm đến viện Trần Nhân Tông

    Phật giáo Trúc Lâm hay Thiền phái Trúc Lâm do Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308) sáng lập năm 1299, sau khi Ngài được Thiền sư Tuệ Tuệ tế độ xuất gia năm 1294 và tu hành đắc đạo tại chùa Hoa Yên, Yên Tử, thuộc đạo Hải Dương - Quảng Yên (nay là Quảng Ninh) do Thiền sư Hiện Quang đời 38 dòng Thiền Vô Ngôn Thông khai sơn năm 1212.

  • Thiền phái Tào Động Việt Nam: Du nhập - kế thừa - phát triển

    Tông Tào Động được truyền vào Việt Nam từ nửa thế kỷ XVII cả hai Đàng - Đàng Ngoài và Đàng Trong dưới thời Vua Lê (Thần Tông, Anh Tông), chúa Trịnh, chúa Nguyễn. Qua quá trình hoạt động cho thấy tông Tào Động Đàng Ngoài, do người Việt Nam sang Trung Quốc học đạo rồi trở về hành đạo tại Việt Nam, mang tính Việt Nam hoàn toàn trong tiến trình kế thừa. Tông Tào Động tại Đàng Trong, do người Trung Quốc truyền bá, không được phổ cập và không tồn tại lâu dài.

  • Thiền phái Lâm Tế Việt Nam: Du nhập - Truyền thừa - Phát triển

    Thiền phái Lâm Tế truyền vào Đại Việt (Việt Nam) vào nửa thế kỷ XVII, bắt đầu từ Đàng Trong (Việt Nam) năm 1630, là Thiền sư Viên Văn Chuyết Công và Minh Hành Tại Tại. Về sau cả hai Đàng, Đàng Trong và Đàng Ngoài đều do Thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết và Minh Hành Tại Tại, nhất là ở Đàng Ngoài. Còn Đàng Trong do Tổ sư Nguyên Thiều, xem là Tổ thứ hai chính thức định hình cho tông Lâm Tế phát triển lâu dài, rõ ràng nhất. Đàng Ngoài vì không có còn người kế thừa, do đó dần dần tông Lâm Tế hòa đồng với tông Tào Động Việt Nam.

  • Thiền phái Thảo Đường Đại Việt

    Thiền phái Thảo Đường thuộc Thiền phái Vân Môn, một trong năm môn phái Thiền Trung Hoa là Tào Động, Lâm Tế, Qui Ngưỡng, Pháp Nhãn, Vân Môn hoạt động tại Trung Hoa hơn 200 năm. Sang Đại Việt (Việt Nam) tính từ Tổ Thảo Đường đời thứ 5 Thiền phái Vân Môn Trung Hoa, nhưng là đời thứ nhất Thiền phái Thảo Đường Đại Việt, truyền xuống cho vua Lý Thánh Tông, kết thúc vào thời vua Lý Cao Tông (1210) và các thiền sư khác, tổng cộng gần 200 năm trên đất Việt, gồm có 19 vị thiền sư, mười thiền sư xuất gia, chín thiền sư cư sĩ.

  • Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê kế thừa, hội tụ, phát triển

    Đạo Phật truyền vào Việt Nam từ đầu kỷ nguyên thứ nhất; trải qua bao cuộc thăng trầm của đất nước, nhất là hơn 1.000 năm Bắc thuộc, lúc nào Phật giáo Việt Nam cũng đồng hành cùng dân tộc, góp phần giữ vững bờ cõi, hòa bình, độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Đạo Phật trở thành mạch sống của dân tộc, ảnh hưởng không nhỏ trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, xã hội, chính trị và ngoại giao.

  • Copyright © 2019 Chùa Minh Đạo
  • Ghi rõ nguồn Chùa Minh Đạo khi sử dụng thông tin từ website này