Tác phẩm, tham luận của HT Trụ Trì

Thiền phái Lâm Tế Việt Nam: Du nhập - Truyền thừa - Phát triển
08:50 | 22/01/2019 (GMT+7)
Thiền phái Lâm Tế truyền vào Đại Việt (Việt Nam) vào nửa thế kỷ XVII, bắt đầu từ Đàng Trong (Việt Nam) năm 1630, là Thiền sư Viên Văn Chuyết Công và Minh Hành Tại Tại. Về sau cả hai Đàng, Đàng Trong và Đàng Ngoài đều do Thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết và Minh Hành Tại Tại, nhất là ở Đàng Ngoài. Còn Đàng Trong do Tổ sư Nguyên Thiều, xem là Tổ thứ hai chính thức định hình cho tông Lâm Tế phát triển lâu dài, rõ ràng nhất. Đàng Ngoài vì không có còn người kế thừa, do đó dần dần tông Lâm Tế hòa đồng với tông Tào Động Việt Nam.
I. Nguồn gốc
1. Sự truyền thừa
1.1. Tại Trung Quốc
Tông Lâm Tế, do Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền thành lập. Ngài là đời thứ 38 Thiền Ấn - Hoa. Nhưng là đời thứ 1 tông Lâm Tế, truyền cho Hưng Hóa Tồn Tưởng (đời thứ 2…).
Bởi lẽ, tính từ Tổ Huệ Năng, đời thứ 33 Thiền tông Ấn - Hoa, kế tiếp truyền thừa cho Nam Nhạc Hoài Nhượng đời 34, Mã Tổ - Đạo Nhất (đời 35), Bách Trượng Hoài Hải (đời 36), Hoàng Bá Hy Vận (đời 37), Lâm Tế Nghĩa Huyền (đời 38), Hưng Hóa Tồn Tưởng (đời 39), Nam Viện Huệ Ngung (đời 40), Phong Nguyệt Diên Chiểu (đời 41), Thủ Sơn Niêm (đời 42), Phần Dương Chiểu (đời 43), Thạch Xương Diên (đời 44), Dương Kỳ Hội (đời 45), Bạch Vân Đoan (đời 46), Ngũ Tổ Diên (đời 47), Viên Mộ Cảm (đời 48), Hổ Khâu Long (đời 49), Ứng Hoa Âm (đời 50), Mật Am Kiệt (đời 51), Phá Am Tiên (đời 52), Vô Chuẩn Phạm (đời 53), Tuyết Nham Khâm (đời 54), Cao Phong Diệu (đời 55), Trung Phong Bổn (đời 56), Thiên Nham Trương (đời 57), Vạn Phong Thời Úy (đời 58 Thiền Ấn - Hoa) đời 21 tông Lâm Tế Trung Quốc.
Ngài Vạn Phong Thời Úy có hai đệ tử xuất sắc là Tổ Định Tuyết Phong (đời 22 tông Lâm Tế), Tổ Đức (Phổ Trì Bảo Tạng) kế thừa chùa Thiên Đồng. Ngài cho ra bài kệ mới gồm 20 chữ:
Tổ Đạo Giới Định Tông / Phương Quảng Chứng Viên Thông / Hạnh Siêu Minh Thiệt Tế / Liễu Đạt Ngộ Chơn Không.
Đến Hòa thượng Ngộ Thiệu Minh Lý (đời 39 Thiền Lâm Tế) chùa Thập Tháp Di Đà cho thêm 4 câu, 20 chữ:
Như Nhật Quang Thường Chiếu / Phổ Châu Lợi Ích Đồng / Tín Hương Sinh Phước Huệ / Tương Kết Chấn Từ Phong.
Từ Tổ Định Tuyết Phong (đời 22) Lâm Tế Trung Quốc, Đạo Minh Huệ Sâm (đời 23), Giới Hải Vĩnh Từ (đời 24), Định Bảo Phong Trí (đời 25), Tông Thiên Bổn Thụy (đời 26), Phương Vấn Minh Thông (đời 27), Quảng Nguyệt Đức Bảo (đời 28), Chứng Truyền Huyễn Hữu (đời 29), Viên Ngộ Mật Vân, Viên Tu Thiên Ấn (đời 30) chùa Thiên Đồng, chùa Khánh Sơn. Thông Thiên Hoằng Giác (đời 31) hay Đạo Mân Mộc Trần. Ngài Chứng Truyền Huyễn Hữu (đời 29) có hai đệ tử nổi danh là Thiền sư Viên Ngộ Mật Vân, trụ trì chùa Thiên Đồng, Viên Tu Thiên Ấn (đời 30) trụ trì chùa Khánh Sơn. Về sau Thiền sư Đạo Mân đắc pháp với Thiền sư Viên Ngộ Mật Vân, nên có pháp danh Thông Thiên Hoằng Giác.
Từ Thông Thiên Hoằng Giác truyền xuống là Hành Quả Khoáng Viên, rồi Siêu Bạch - Hoán Bích cho đến Minh Giác Kỳ Phương. Còn Đạo Mân thì truyền xuống cho Bổn Quả Khoáng Viên, Nguyên Thiều Thọ Tôn, theo bài kệ Đạo Mân Mộc Trần:
Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên / Minh Như Hồng Nhật Lệ Trung Thiên / Linh Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Phổ / Chiếu Thế Chơn Đăng Vạn Cổ Huyền.
+ Còn Minh Giác Kỳ Phương, thì theo bài kệ Vạn Phong Thời Úy:
Tổ Đạo Giới Định Tông / Phương Quảng Chứng Viên Thông / Hạnh Siêu Minh Thiệt Tế / Liễu Đạt Ngộ Chơn Không / Như Nhựt Quang Thường Chiếu / Phổ Chu Lợi Ích Đồng / Tín Hương Sinh Phúc Huệ / Tương Kế Chấn Từ Phong…
Qua đó, cho thấy Hành Quả Khoáng Viên hay Bổn Quả Khoáng Viên là một người nhưng mang hai dòng chữ của Thiền phái.
Bảo Tạng Trì (đời 59), Đông Minh Sảng (đời 60), Hải Chu Từ (đời 61), Bảo Phong Tuyền (đời 62), Thiên Kỳ Thoại (đời 63), Tuyệt Học Thông (đời 64), Tiếu Nham Bảo (đời 65), Huyễn Hữu Tuyên (đời 66), Thi ên Đồng Mật (đời 67), Lâm Dã Kỳ (đời 68), Nhị Ẩn Bật (đời 69), khuyết danh (đời 70), Tăng Nguyên Đà Đà (đời 71), đời 33 Lâm Tế Trung Quốc.
1.2. Tại Việt Nam
1. 2.1. Lâm Tế Đàng Ngoài
Viên Văn Chuyết Chuyết (đời 72 Thiền Ấn - Hoa), đời 34 Thiền Lâm Tế Việt Nam.
Minh Hành (đời 35). Thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết tên đời là Lý Thiên Tộ, sinh năm 1590 tại Tiệm Sơn, quận Thanh Sơn, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Lớn lên theo học với Trưởng lão Tiệm Sơn, có pháp hiệu là Hải Trừng. Về sau tham yết Hòa thượng Tăng Nguyên Đà Đà ở Nam Sơn, được Tổ truyền tâm ấn. Tổ nói: “Ngày sau, Ta sẽ nhường chỗ cho người này. Y sẽ bước khỏi đầu sào trăm trượng”. Sau khi đắc pháp, Ngài đi hoằng hóa khắp nơi tại miền Nam Trung Quốc.
Năm 1630, trong nước có loạn Lý Tự Thành, rồi đến nhà Thanh đánh bại nhà Minh, xâm chiếm Trung Quốc, Hòa thượng đã cùng một số đệ tử trong đó có Minh Hành Tại Tại xuống thuyền lánh sang Đàng Trong Đại Việt (Việt Nam). Đầu tiên Tổ đến vùng Đồng Nai, nhưng vì cơ duyên chưa đủ, nhất là cư dân trong đó người Hoa đến lập nghiệp từ những năm 1611 với người Việt còn quá ít. Do đó, Tổ cùng đệ tử dong thuyền ra Đàng Ngoài đến trụ tại chùa Thiên Tượng, Nghệ Tĩnh (Nghệ An - Hà Tĩnh) một thời gian, sau đó Tổ ra hành đạo tại chùa Trạch Lâm (nay là Khánh Quang), Thanh Hóa. Đến năm 1633, Tổ ra Thăng Long, trấn tích tại chùa Khán Sơn, Hà Nội một thời gian. Cuối cùng, đến hành đạo lâu dài tại chùa Vạn Phúc (Phật Tích), Bắc Ninh.
Đệ tử Tổ rất đông, gồm cả vua, chúa, thần dân đều đến quy y với Tổ, trong đó có vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng, hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc và công chúa Lê Thị Ngọc Duyên… Sau khi hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (vợ vua Lê Thần Tông) pháp danh Diệu Viên, hiệu Pháp Tánh tu bổ chùa Ninh Phúc (Bút Tháp), Bắc Ninh xong, cung thỉnh Tổ sang trụ trì, còn Minh Hành Tại Tại trụ trì chùa Vạn Phúc (Phật Tích). Khi gần ngày viên tịch, Tổ có di chúc bài kệ:
Tre gầy thông vót nước thơm rơi / Gió thoảng trăng non mát dịu người / Nguyên Tây ai ở người nào biết? / Mỗi chiều chuông tiễn bóng hoàng hôn.
Âm:
Sấu trúc trường tùng trích thủy hương / Lưu phong sơ nguyệt độ vi lương / Bất tri thùy trụ Nguyên Tây tự / Mỗi nhật chung thanh tống tịch dương.
Nói xong bài kệ, Tổ viên tịch ngày rằm tháng Bảy Giáp Thân (1644), thọ 55 tuổi. Ngài Minh Hành xây tháp Bảo Nghiêm thờ tại chùa Vạn Phúc (Phật Tích), xây tháp thờ vọng tại chùa Ninh Phúc (Bút Tháp). Tổ để lại nhục thân không rã, còn tôn trí đến ngày nay. Sau khi viên tịch, Tổ được vua Lê Trang Tông ban thụy hiệu “Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại đức Thiền sư”. 
Sau khi Tổ viên tịch, Minh Hành Tại Tại trụ trì chùa Ninh Phúc (Bút Tháp), Ni sư Pháp Tánh - Diệu Viên trụ trì chùa Vạn Phúc (Phật Tích).
Về sau, khi Minh Hành Tại Tại viên tịch năm 1659, thọ 64 tuổi, Ni sư Diệu Viên trụ trì chùa Ninh Phúc, công chúa Lê Thị Ngọc Duyên xuất gia pháp danh Diệu Tuệ trụ trì chùa Vạn Phúc (Phật Tích). Cho đến thời Tây Sơn - Pháp thuộc, chùa bị phá hủy chỉ còn lại di tích Bảo tháp có toàn thân Tổ Viên Văn Chuyết Công và tượng Phật Di-đà do vua Lý Thánh Tông tạc năm 1057.
Chốn Tổ thứ 3 phái Lâm Tế là chùa Liên Tôn (Liên Phái Hà Nội), do Như Trừng Lân Giác (tên đời là Trịnh Thập) sáng lập. Ngài cầu pháp xuất gia với Thiền sư Chân Nguyên Chánh Giác (chùa Lân, Long Động, Yên Tử, Quảng Ninh) đệ tử Tổ Minh Lương, chùa Vĩnh Phúc, được Chân Nguyên ban pháp danh Như Trừng Lân Giác, hoằng hóa tông Lâm Tế một thời gian dài, có sự kế thừa rõ nét là: Minh Lương (1), Chơn Nguyên (2), Như Trừng (3), Tính Dược (4), Tính Tuyền (4 cùng đời), Hải Quýnh (5), Tịch Truyền (6), Chiếu Khoan (7), Phổ Tịnh (8), Thông Hinh (9), Mật Nhân - Phúc Điền (10), Từ Đức, Thanh Trang (11). Từ chùa Bà Đá truyền qua Thông Bích - Mai Quang; Bích Đàm, Thanh Nhẫn, Bảo Thụ - Thanh Hương, Thanh Dụng, Thanh Tuệ, Gia Quang (18).  
Ngài Minh Hành Tại Tại cho ra bài kệ truyền pháp Lâm Tế Đàng Ngoài (Bắc Việt) như sau:
Minh Chân Như Bảo Hải / Kim Tường Phổ Chiếu Thông / Chí Đạo Thành Chánh Quả / Giác Ngộ Chứng Chơn Không.
Minh Lương (đời 73, đời 35 Lâm Tế Việt Nam), Chân Nguyên Chánh Giác (đời 74), Như Trừng Lân Giác (đời 75) (Như Hiện Nguyệt Quang), Thuần Giác (đời 75 cùng đời), Đỗ Đa Lưỡng Quốc (đời 76), Tánh Tĩnh (đời 76 cùng đời), Từ Phong Hải Quýnh (đời 77), Kim Liên Tịch Truyền (đời 78), Tường Quang Chiếu Khoan (đời 79), Phổ Tánh (đời 80), Sơn Tây (đời 81), xuất gia với Tổ Từ Tánh chùa Thiên Quang núi Đại Hùng (Hà Tây - Hà Nội), về sau trụ trì chùa Từ Ân Bổn Xả, pháp danh Tánh Kim. Đến đây, phái Lâm Tế Đàng Ngoài từ từ hòa nhập với tông Tào Động Việt Nam.
1.2.2. Lâm Tế Đàng Trong
Đến đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), năm 1677 Thiền sư Nguyên Thiều - Thọ Tôn (húy Siêu Bạch - Hoán Bích) dòng Lâm Tế Nghĩa Huyền đời thứ 33, sinh năm Mậu Tý (1648), xuất gia năm 19 tuổi (1666), đệ tử Bổn Quả Khoáng Viên (Hành Quả Khoáng Viên), khai sơn chùa Báo Tư - Trung Quốc, theo thuyền buôn cùng một số đệ tử đến phủ Qui Ninh (Qui Nhơn) và lập cước nơi đây để hoằng đạo. Đầu tiên, vào năm 1678, ngài cho xây dựng chùa Thập Tháp Di Đà, công trình đến năm 1683 hoàn thành. Tổ cử hành lễ khánh thành, được vua Lê Hy Tông ban bảng vàng Sắc tứ: “Thập Tháp Di Đà tự”.
Tổ Nguyên Thiều thuộc môn phái Lâm Tế Nghĩa Huyền, truyền đến ngài Vạn Phong - Thời Uý, đời thứ 21 khai sơn chùa Thiên Đồng - Trung Quốc, cho ra bài kệ: Tổ, Đạo, Giới, Định… Viên Thông (Thông Thiên - Hoằng Giác hay Đạo Mân Mộc Trần) khai sơn chùa Thiên Khai - Trung Quốc. Tổ quy y với Hòa thượng Bổn Quả Khoáng Viên hay Hành Quả Khoáng Viên đệ tử Đạo Mân Mộc Trần khai sơn chùa Báo Tư Tân Tự.
Do đó, trong quá trình truyền thừa, ý Tổ muốn giữ cả hai dòng kệ cùng chung một môn phái Lâm Tế Nghĩa Huyền, cùng một chốn Tổ là Thiên Đồng, Thiên Khai, Báo Tư, nên khi truyền pháp, Ngài dùng hai chữ: Nguyên  cho đến  Thành, Phật, Tổ, Tiên… hay Siêu cho đến Minh, Thiệt, Tế v.v… tùy theo nhân duyên phú pháp.
Sau một thời gian hành đạo tại chùa Thập Tháp Di Đà, Tổ vân du hóa đạo các tỉnh cực Bắc (Thuận Hóa), trùng tu chùa Hà Thành (chùa Hà Trung) cửa biển Tư Dung nay là Tư Hiền, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế. Sau đó, Tổ trùng tu chùa Vĩnh Ân, đổi tên thành chùa Quốc Ân (TP.Huế). Năm 1690, Tổ vâng lịnh chúa Nguyễn Phúc Trăn về Trung Quốc thỉnh một số chư Tăng sang hành đạo tại Đàng Trong và một số pháp khí để tôn thờ tại chùa Thiên Mụ, Hà Trung, Quốc Ân v.v…
Đến năm 1694, thời chúa Nguyễn Phúc Chu, Tổ cùng đệ tử vân du hành đạo tại miền Nam, trước tiên lưu trú tại chùa Đại Giác, Cù lao Phố, Đồng Nai.
Qua đó, có thể nói trong quá trình di dân, mở mang bờ cõi phương Nam của chúa Nguyễn đã có nhiều lưu dân Thuận Quảng vào cư trú tại đây, mốc thời gian cụ thể là năm 1611. Và trong đó không loại trừ các thiền sư phái Trúc Lâm gốc Lâm Tế vào hóa đạo và xây dựng chùa chiền, như Thiền sư Viên Cảnh Lục Hồ, Đại Thâm Viên Khoan, Viên Văn Chuyết Chuyết, Minh Hành Tại Tại v.v… vào những năm 1630-1640. Như vậy, chùa Đại Giác, Bửu Phong đã in dấu chân hoằng hóa của các thiền sư này, trước khi Tổ Nguyên Thiều đến lưu ngụ và hành đạo tại phương Nam (1694).
Sang năm 1695, Tổ Nguyên Thiều xây dựng chùa Kim Cang - Bình Thảo, Biên Hòa, Đồng Nai và hóa độ rất nhiều đệ tử nổi danh, làm xán lạn Phật giáo Đàng Trong cũng như Đồng Nai - Gia Định (Nam Kỳ lục tỉnh). Vì lúc đó, Gia Định thành là gồm cả vùng đất miền Đông và miền Tây (Dinh Trấn Biên - Biên Hòa, Dinh Phiên Trấn - Gia Định, Chợ Lớn, Dinh Trường Đồn - Long An, Mỹ Tho; Dinh Long Hồ - Vĩnh Long, An Giang và trấn Hà Tiên).
Như trên đã nói, Tổ Nguyên Thiều sử dụng hai bài kệ cùng dòng phái là Tổ Đạo Giới Định Tông và Đạo Bổn Nguyên… Do đó, khi truyền thừa pháp phái Lâm Tế thì có hai dòng chữ: từ Nguyên cho đến Thành, Phật, Tổ, Tiên; từ Siêu cho đến Minh, Thật, Tế…
Nói cho dễ hiểu: Siêu Minh Thật Tế là phần lớn Tổ truyền cho đệ tử các tỉnh cực Bắc Thuận Hóa. Còn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên là Tổ truyền cho đệ tử các tỉnh Nam Kỳ lục tỉnh và miền Đông Nam Bộ. Qua đó, từ chữ Siêu, Tổ truyền cho:
- Minh Giác Kỳ Phương (đời 34)
- Minh Hải Pháp Bảo
- Minh Lượng Nguyệt Ân
- Minh Hằng Định Nhiên
- Minh Phụng
- Minh Vật Nhất Tri
- Minh Dung Pháp Thông
- Minh Cần Chánh Trung v.v…
Từ chữ Nguyên, Tổ truyền cho đệ tử chữ Thành (đời 34):
- Thành Đạo (Minh Giác Kỳ Phương)
- Thành Đẳng (Minh Lượng)
- Thành Nhạc Ẩn Sơn
- Thành Chí Pháp Thông (Minh Dung)
- Thành Ngộ Nghiêm An v.v…
Rồi từ đó các Hòa thượng mang chữ Minh hay chữ Thành cũng theo gương Tổ Nguyên Thiều truyền cho đệ tử cũng theo dòng kệ của Tổ Định Tuyết Phong (Tổ Đạo Giới…) hoặc Đạo Mân Mộc Trần (Đạo Bổn Nguyên…), nhưng dù chữ nào, cũng là một dòng Lâm Tế, là đệ tử Phật, đệ tử Tổ với nhau, cùng một Tổ đình Thiên Đồng, Thiên Khai, Báo Tư - Trung Quốc, hay Thập Tháp Di Đà - Bình Định, Quốc Ân, Thiền Tôn - Huế, Kim Cang, Đại Giác - Đồng Nai, Từ Ân, Giác Lâm - Gia Định, Sài Gòn, Tây An, Phi Lai - Châu Đốc, An Giang v.v…
Sau hơn 80 năm hành đạo, Phật sự đã xong, công viên quả mãn, ngày 19/10 Mậu Thân, niên hiệu Bảo Thái thứ 9 (20/11/1728) ngài lâm bịnh nhẹ, cho tập hợp đệ tử lại và làm bài kệ di chúc (dặn dò):
Lẳng lặng gương không bóng / Sáng tỏ ngọc không hình / Rõ ràng vật không vật /Vắng lặng không chẳng không.
Âm:        
Tịch tịch cảnh vô ảnh / Minh minh châu bất dung / Đường đường vật phi vật / Liêu liêu không bất không.
Viết xong bài kệ di chúc, ngài an nhiên thị tịch, thọ 81 tuổi. Các hàng đệ tử, môn đồ xây tháp Tổ thờ tại chùa Quốc Ân và Phổ Thành - Hà Trung - Phổ Đồng Thuận Hóa (Huế) và chùa Kim Cang - Đồng Nai.
Sang năm Kỷ Dậu, hiệu Bảo Thái thứ 10 (1729), mùa Phật đản 8/4 chúa Nguyễn Phúc Trú (1725-1738) ban tặng thụy hiệu: “Thiền sư Hạnh Đoan”, Sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích bi ký và bài minh khắc vào bia tháp phụng thờ. Nội dung như sau:
Bát nhã cao siêu / Chùa thất sáng ngời / Trăng nước rong chơi / Giữ giới nghiêm nhặt / Lắng trong riêng vững / Ắt hẳn đứng cao / Quán thân vốn không / Hoằng pháp lợi sanh / Mây lành che khắp / Vầng tuệ chiếu cùng / Nhìn Ngài ngưỡng Ngài / Cao như non Thái.
Âm:
Ưu ưu Bát Nhã / Đường đường Phạm thất / Thủy nguyệt ưu du / Giới trì chiếm lật / Trú lập khả tất / Quán thân bổn không / Hoằng pháp lợi vật / Biến phú từ vân / Phổ chiếu huệ nhật / Chiêm chí chiêm chí / Thái sơn ngật ngật.
Ngày nay, dòng Lâm Tế gia phổ (Thiên Khai) đã phát triển đến đời thứ 44 là chữ Linh theo bài kệ Đạo Mân Mộc Trần - Thông Thiên Hoằng Giác:
Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên / Minh Như Hồng Nhật Lệ Trung Thiên / Linh, Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Phổ / Chiếu Thế Chơn Đăng Vạn Cổ Huyền.
Và dòng Tổ Định Tuyết Phong (Lâm Tế Thiên Đồng) truyền đến đời thứ 42 chữ Như:
Tổ Đạo Giới Định Tông / Phương Quảng Chứng Viên Thông / Hạnh Siêu Minh Thiệt Tế / Liễu Đạt Ngộ Chơn Không / Như Nhật Quang Thường Chiếu v.v…
+ Dòng Lâm Tế Trí Huệ truyền đến đời 43 chữ Thông như sau:
Trí Tuệ Thanh Tịnh / Đạo Đức Viên Minh / Chân Như Tánh Hải / Tịch, Chiếu, Phổ, Thông v.v…
+ Dòng Lâm Tế Chúc Thánh (Minh Hải Pháp Bảo) truyền bá đến đời thứ 45 (Thánh):
Minh Thiệt Pháp Toàn Chương / Ấn Chơn Như Thị Đồng / Chúc Thánh Thọ Thiên Cữu / Kỳ Quốc Tợ Địa Trường…
+ Dòng Lâm Tế Liễu Quán truyền đến đời thứ 47 (Đức):
Thiệt Tế Đại Đạo / Tánh Hải Thanh Trừng / Tâm Nguyên Quảng Nhuận / Đức Bổn Từ Phong v.v…
Từ các chốn Tổ Thập Tháp Di Đà, Hòa thượng Minh Giác Kỳ Phương (Thành Đạo) truyền cho Thiệt Kiến (chùa Thập Tháp - Bình Định, chùa Thiên Mụ - Huế), Thiệt Truyền Giác Liễu (chùa Đại Giác) và Phật Tính Từ Nghiêm (chùa Hưng Long - Bình Dương), Ngộ Thiệu - Minh Lý truyền cho Chơn Luận, Phước Huệ, Thập Tháp, Long Khánh (Bình Định), Như Phước - Trí Hải - Hồng Pha - Trí Độ v.v…
Từ chốn Tổ Quốc Ân (Huế) Hòa thượng Như Căn - Nguyên Cát, Như Đồng Đắc Quang truyền cho Hồng Nam - Huyền Không, Hồng Nhị Vĩnh Thừa, Hồng Nhật Trí Minh, Hồng Tuyên - Chánh Giáo (chùa Phổ Minh - Quảng Bình) và Nhật Quang (Trí Quang), Minh Hằng truyền cho Thiệt Tánh - Trí Hải v.v… Từ chốn Tổ Thiền Tôn, Tổ Thiệt Diệu Liễu Quán tỏa ra cho đến Tâm Phật (Thiện Siêu), Tâm Địa (Thiện Bình) v.v…
Từ chốn Tổ Đại Giác, Kim Cang có Hòa thượng Thành Đẳng (chùa Đại Giác), Thành Nhạc (chùa Châu Thới, Long Thiền), Thành Chí (chùa Bửu Phong) Đồng Nai cho đến Hòa thượng Hồng Tín - Huệ Thành v.v…
Từ chốn Tổ Từ Ân - Giác Lâm, các pháp tôn của Tổ như Phật Ý, Tổ Tông, Tiên Giác, Minh Khiêm, Minh Hương, Minh Lượng v.v… Như Phòng, Như Nhãn, Như Quới, Như Hiển v.v… Từ chốn Tổ Tây An, Tiên Giác truyền cho Minh Huyên Pháp Tạng (Phật Thầy Tây An), Minh Võ Nhất Thừa v.v… Sau đó, Tổ Minh Khiêm truyền cho Như Sơn, Như Quả, Như Nghĩa, Như Tâm, Như Đắc, Như Mật rồi đến Hồng Nguyện, Hồng Đại, Hồng Trung, Hồng Chí, Hồng Hưng, Hồng Trực, Hồng Cung. Từ chốn Tổ Phi Lai có Hòa thượng Hồng Pháp, Hồng Quang, Hồng Nở, Hồng Tôi, Hồng Xứng - Nhựt Bình (Trí Tịnh) v.v… đã phát triển đạo vàng truyền đăng tục diệm, kế vãng khai lai, làm cho Đạo pháp được chấn hưng trong những thập niên 1920-1950, đóng góp nhiều công đức trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Việt Nam, thống nhất đất nước. Kết quả là Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập năm 1981, mở đầu một trang sử mới, một giai đoạn phát triển mới của Phật giáo Việt Nam.
Không những thế, Phật giáo còn phát triển đến tầm cao mới, vươn tay ra đến trường quốc tế. Ngày nay, nhiều nước trên thế giới biết đến Việt Nam, biết đến Phật giáo Việt Nam là một điểm son, là những thành quả quý giá của các pháp tử, pháp tôn, pháp điệt (huyền tôn), thiện hữu tri thức ảnh hưởng tùy thuận, tâm đồng ý hiệp kính dâng cúng dường liệt vị Tổ sư. Và đồng thời, nguyện đoàn kết, hòa hợp hơn nữa, để làm cho Đạo pháp ngày càng phát triển vững mạnh trang nghiêm, đồng hành cùng dân tộc, hiện hữu trong lòng dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam thân yêu của thế kỷ XXI và những thế kỷ tiếp theo.
Quả thực:
Vòi vọi sáng ngời ngôi tháp Tổ / Ngàn năm còn rạng rỡ nét tông phong / Giữ gìn tổ ấn môn phong / Tốt đời đẹp đạo giữa lòng dân gian.
II. Kết luận:
Tóm lại, Thiền phái Lâm Tế truyền vào Đại Việt (Việt Nam) vào nửa thế kỷ XVII, bắt đầu từ Đàng Trong (Việt Nam) năm 1630, là Thiền sư Viên Văn Chuyết Công và Minh Hành Tại Tại. Về sau cả hai Đàng, Đàng Trong và Đàng Ngoài đều do Thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết và Minh Hành Tại Tại, nhất là ở Đàng Ngoài. Còn Đàng Trong do Tổ sư Nguyên Thiều, xem là Tổ thứ hai chính thức định hình cho tông Lâm Tế phát triển lâu dài, rõ ràng nhất. Đàng Ngoài vì không có còn người kế thừa, do đó dần dần tông Lâm Tế hòa đồng với tông Tào Động Việt Nam. Trong khi đó, tông Lâm Tế Đàng Trong tiếp tục tồn tại và phát triển cho đến ngày nay, nhờ hồng ân của Tổ Nguyên Thiều và liệt vị Tổ sư dày công duy trì, phát triển một cách phong phú, bao gồm cả Lâm Tế Thiên Đồng, Lâm Tế Trí Tuệ, Lâm Tế Gia Phổ, Lâm Tế Chúc Thánh, Lâm Tế Liễu Quán đều lấy Lâm Tế Nghĩa Huyền làm Chánh tông như một vườn hoa nở rộ, tỏa ngát hương thơm, khoe sắc thắm trong vòm trời và mảnh đất Việt Nam hơn 300 năm nay và mãi mãi về sau.

Tài liệu tham khảo:
1. Thiền uyển kế đăng lục (Thiền sư Từ Sơn - Như Sơn 1734) bản dịch Thích Thiện Phước, Lý Việt Dũng, 2015.
2. Thiền sư Việt Nam - HT.Thanh Từ (1992).
3. Việt Nam Phật giáo sử luận - Nguyễn Lang, Nxb VH 2008.
4. Phật giáo xứ Huế - Thích Hải Ấn, Hà Xuân Liêm, Nxb TP 2001.
5. Phật giáo Đàng Trong - Nguyễn Hiền Đức, Nxb TP 1993.
6. Hà Nội danh lam cổ Tự - Thích Bảo Nghiêm, Võ Văn Tường, Nxb VHTT HN 2003.
7. Chư tôn thiền đức, cư sĩ hữu công, Phật giáo Thuận Hóa  - Thích Trung Hậu, Thích Hải Ấn - Nxb TP.HCM 2011.
Nguồn: Sách “Những đóa hoa Phật giáo Việt Nam”
  • Copyright © 2019 Chùa Minh Đạo
  • Ghi rõ nguồn Chùa Minh Đạo khi sử dụng thông tin từ website này