Tác phẩm, tham luận của HT Trụ Trì

Thiền phái Thảo Đường Đại Việt
12:10 | 11/01/2019 (GMT+7)
Thiền phái Thảo Đường thuộc Thiền phái Vân Môn, một trong năm môn phái Thiền Trung Hoa là Tào Động, Lâm Tế, Qui Ngưỡng, Pháp Nhãn, Vân Môn hoạt động tại Trung Hoa hơn 200 năm. Sang Đại Việt (Việt Nam) tính từ Tổ Thảo Đường đời thứ 5 Thiền phái Vân Môn Trung Hoa, nhưng là đời thứ nhất Thiền phái Thảo Đường Đại Việt, truyền xuống cho vua Lý Thánh Tông, kết thúc vào thời vua Lý Cao Tông (1210) và các thiền sư khác, tổng cộng gần 200 năm trên đất Việt, gồm có 19 vị thiền sư, mười thiền sư xuất gia, chín thiền sư cư sĩ.
I. Nguồn gốc
A. Tại Trung Hoa
Theo lịch sử truyền thừa Thiền tông Ấn Hoa, tính từ Sơ tổ Ma-ha Ca-diếp đến Tổ Bồ-đề-đạt-ma là Tổ thứ 28 tại Ấn Độ; khi Tổ sang truyền đạo tại Trung Hoa thì thành Sơ tổ, tính đến Tổ Huệ Năng là thứ 6, nhưng là Tổ thứ 33 Thiền tông Ấn Hoa.
Tổ Huệ Năng có hai vị đệ tử xuất sắc là Thanh Nguyên Hành Tư và Nam Nhạc Hoài Nhượng (đời thứ 7). Nam Nhạc truyền cho Mã Tổ Đạo Nhất (đời thứ 8), Mã Tổ truyền cho Bách Trượng Hoài Hải (đời thứ 9) và Thiên Vương Ngộ (đời thứ 9). Trong đó, Thiên Vương Ngộ (đời thứ 9) truyền cho Long Đàm Sùng Tín (đời thứ 10), Long Đàm truyền cho Đức Sơn Tuyên Giám (đời thứ 11), Tuyên Giám truyền cho Tuyết Phong Nghĩa Tôn (đời thứ 12). Nghĩa Tôn truyền cho Vân Môn Văn Yển và Huyền Sa Sư Bị (đời thứ 13). Văn Yển (864-949) thành lập Tông Vân Môn, một trong năm môn phái Thiền Trung Hoa và trở thành đời thứ nhất của Tông Vân Môn. Văn Yển truyền cho Hương Lâm Trừng Viễn (đời thứ 2), Trừng Viễn truyền cho Trí Môn Quang Tộ (đời thứ 3). Quang Tộ truyền cho Trừng Hiển Minh Giác (980-1052) (đời thứ 4). Minh Giác Tuyết Đậu truyền cho Thảo Đường (đời thứ 5), Nghĩa Hòa, Trí Phước, Truyền Tông thuộc đời thứ 5 v.v… nhưng là đời thứ 17 Thiền Trung Hoa.
Thiền sư Trừng Hiển Minh Giác, họ Lý tự Ẩn Chi, trụ trì chùa Tư Khánh, núi Tuyết Đậu, phía Tây huyện Phụng Hóa tỉnh Triết Giang, Trung Hoa. Thiền sư viên tịch năm 1052 Tây lịch dưới thời Tống Nhân Tông, thụy hiệu Minh Giác Đại Sư là do nhà vua ban cho. Theo phong tục Nho giáo, sau ba năm cư tang Bổn sư (1052-1055), Thiền sư Thảo Đường theo các thuyền buôn của thương nhân sang Lâm Ấp (Champa - Chiêm Thành) truyền đạo. Như vậy thời gian chậm nhất cũng là những năm 1057, 58, 59 Thiền sư Thảo Đường đến Chiêm Thành truyền đạo.
B. Tại Đại Việt
Năm 1069, vua Lý Thánh Tông chinh phạt Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Chế Củ và một số tù binh, trong đó có tù binh Thảo Đường. Về đến kinh thành Thăng Long, tù binh Thảo Đường được giao cho một vị Tăng lục (Bát Nhã hay Huệ Sinh?) để phục dịch. Một hôm Ngài Tăng lục đi ra ngoài, tù binh Thảo Đường thấy bản chép tay Ngữ lục của Tăng lục có một vài chữ sai, Ngài liền sửa lại. Khi phát hiện, Tăng lục trình lên vua Lý Thánh Tông. Nhà vua cho vời tù binh Thảo Đường đến hỏi nguyên do, qua trao đổi nhà vua phát hiện đây là một thiền sư nổi tiếng của Trung Hoa sang truyền đạo tại Chiêm Thành và bị bắt. Nhà vua rất khâm phục và giải phóng, tôn làm Quốc sư (1070-1071), cử Ngài về trụ trì chùa Khai Quốc (Trấn Quốc) trong kinh thành Thăng Long để hành đạo, đồng thời được xem như Tổ khai sáng Thiền phái Thảo Đường Đại Việt (Việt Nam).
Qua đó, Thiền sư Thảo Đường là Sơ tổ Thiền phái Thảo Đường Đại Việt (Việt Nam) và truyền cho vua Lý Thánh Tông thuộc đời thứ 1 (theo dòng phái là đời thứ 2) như sau:
- Sơ tổ - Thiền sư Thảo Đường chùa Khai Quốc (đời thứ 5 Thiền phái Vân Môn).
- Đời thứ 1, gồm có ba vị: Hoàng đế Lý Thánh Tông, Thiền sư Bát Nhã (chùa Phúc Thánh làng Dịch Vương Trương Canh), cư sĩ Ngộ Xá làng Bảo Tài Long Chương (nối pháp trực tiếp Thiền sư Thảo Đường).
- Đời thứ 2, có bốn vị: Tham Chính Ngộ Ích, nối pháp Hoàng đế Lý Thánh Tông. Thiền sư Hoằng Minh làng An Lăng, Vĩnh Hưng nối pháp Thiền sư Bát Nhã. Thiền sư Không Lộ chùa Quang Nghiêm - Hải Thanh, Thiền sư Định Giác (Giác Hải), gốc dòng Vô Ngôn Thông) hai vị trên nối pháp cư sĩ Thiền sư Ngộ Xá.
- Đời thứ 3, có bốn vị: Thái phó Đỗ Anh Vũ, nối pháp Thiền sư Tham Chính Ngộ Ích (dị bản, nối pháp Thiền sư Định Giác (Giác Hải). Thiền sư Phạm Âm làng Thanh Oai, An La, nối pháp Thiền sư Thiệu Minh - Hoằng Minh. Hoàng đế Lý Anh Tông, Thiền sư Đỗ Đô, hai vị nầy nối pháp Thiền sư Không Lộ (dị bản, nối pháp Thiền sư Định Giác (Giác Hải), gốc dòng Vô Ngôn Thông).
- Đời thứ 4, có ba vị: Thiền sư Trương Tam Tạng, nối pháp Thiền sư Phạm Âm (dị bản, nối pháp Thiền sư Không Lộ, Thiền sư Định Giác (Giác Hải). Thiền sư Chân Huyền, Thái phó Đỗ Thường, hai vị nầy nối pháp Thiền sư Đỗ Đô đời thứ 6 Thiền phái Thảo Đường (dị bản, nối pháp Thiền sư Tịnh Giới (Thiền), dòng Vô Ngôn Thông).
- Đời thứ 5 (đời thứ 10 Thiền phái Vân Môn), có bốn vị: Thiền sư Hải Tịnh, Hoàng đế Lý Cao Tông, xướng nhị quản giáp Nguyễn Thức, ba vị nầy nối pháp Thiền sư Trương Tam Tạng. Phụng ngự Phạm Đẳng, nối pháp Thiền sư Chân Huyền (dị bản, nối pháp Thái phó Đỗ Đô).
Qua các thế hệ truyền thừa Thiền phái Thảo Đường, chúng ta nhận thấy tính từ Sơ tổ Thảo Đường là 6 đời, gồm có 19 thiền sư, trong đó có ba Hoàng đế là Hoàng đế Lý Thánh Tông (1054-1072), Hoàng đế Lý Anh Tông (1138-1175), Hoàng đế Lý Cao Tông (1176-1210), 10 vị Thiền sư xuất gia: Thiền sư Thảo Đường, Thiền sư Bát Nhã, Thiền sư Hoằng Minh, Thiền sư Không Lộ, Thiền sư Định Giác, Thiền sư Phạm Âm, Thiền sư Đỗ Đô, Thiền sư Trương Tam Tạng, Thiền sư Chân Huyền, Thiền sư Hải Tịnh và một vị cư sĩ Ngộ Xá, cùng năm quan chức Triều Lý: Tham chính Ngộ Ích, Thái phó Đỗ Anh Vũ, Thái phó Đỗ Thường, Quản giáp Nguyễn Thức, Phụng ngự Phạm Đẳng dưới triều Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông có thể kéo dài tới Lý Huệ Tông, Lý Chiêu Hoàng (1225). Cụ thể năm 1212, vua Lý Huệ Tông đã lánh nạn tại tư dinh của Đại Liêu Ban Đỗ Thường ở Đông Ngạn, khi vua Lý Cao Tông bắt giam Phạm Bỉnh Di, thuộc hạ là Quách Bốc ủng hộ Phạm Bỉnh Di nên gây loạn ở triều đình, nhà vua và Thái tử Sâm (Lý Huệ Tông) phải bỏ kinh thành chạy loạn.
Theo An Nam chí lược, Thiền uyển tập anh, nói: “Thiền sư ngồi ngay thẳng thị tịch, hưởng thọ 50 tuổi”, không ghi ngày tháng năm. Tuy nhiên, theo sử liệu, Thiền sư phải tịch trước những năm Hội Phong thứ 5 (1096). Vì khi Phù Thánh Cảm Linh Nhân Hoàng Thái hậu (Hoàng Thái hậu Ỷ Lan, vợ vua Lý Thánh Tông, mẹ vua Lý Nhân Tông) hỏi Thiền sư Thông Biện về các Thiền phái tại Đại Việt, Thiền sư chỉ đáp có: “Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông”, không nhắc đến Thiền sư Thảo Đường, Thiền phái Thảo Đường. Vì có lẽ Thiền sư đã viên tịch từ lâu, không còn người kế thừa làm Tông chủ, Thiền chủ như các Thiền phái khác. Nhất là vua Lý Thánh Tông đã băng hà năm 1072, còn những vị thiền sư khác chắc không có gì xuất sắc.
II. Đặc trưng
Thiền phái Thảo Đường Đại Việt, nguyên thỉ thuộc Thiền phái Vân Môn, Trung Hoa. Thiền sư Minh Giác Tuyết Đậu là thầy Thiền sư Thảo Đường. Tư tưởng chủ đạo là Tuyết Đậu Ngữ Lục Thiền Công án do Thiền sư khởi thảo gồm các tiết mục: Lời thăng tòa thuyết pháp, pháp ngữ, niêm hương, những cơ duyên truyền đăng, gần 100 năm sau tới Viên Ngộ Khắc Cần (1063-1135) thuộc phái Lâm Tế đã hoàn thành dưới tên là Bích Nham lục, do Thiền sư Minh Giác đã chọn 100 công án trong số 1.700 công án của bộ Cảnh đức Truyền đăng lục. Tuy nhiên, khi hình thành và phát triển tại Đại Việt - Việt Nam, thì có sự kết hợp giữa Thiền - Tịnh - Mật - Nho, do đó tư tưởng vận hành của Thiền phái mang tính dung hợp để tồn tại, phát triển hơn 150 năm, gần nửa triều Lý, đến đời Trần (1225 - 1400), vẫn còn ảnh hưởng thiền công án của Thiền sư Tuyết Đậu Vân Môn, như Phật là gì? Một cục phân khô, gậy chống hóa rồng, Vân Môn cột trụ v.v… trong các tác phẩm của Thiền sư Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung v.v…
Mặc dù Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông là người chứng ngộ lý Thiền Thảo Đường, nhưng tư tưởng tôn sùng pháp môn Niệm Phật, Thiền Tịnh song tu, Tịnh độ hóa nhân gian vẫn được duy trì và áp dụng cho Môn phái tại chùa Khai Quốc (Trấn Quốc) và Thiên Phúc (Bắc Ninh). Cụ thể, năm 1057, vua Lý Thánh Tông sai Lang tướng Quách Mãn tạc tượng Phật A-di-đà cao 1m8, tôn thờ tại tháp chùa Thiên Phúc (Phật Tích). Hằng năm, vua Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông đều thân hành đến làm lễ, sau nầy sang nhà Trần, vua Trần Nhân Tông, Trần Nghệ Tông vẫn thường đến chùa Thiên Phúc (Vạn Phúc) hành lễ, tổ chức các lễ hội tại đây. Nhất là vua Trần Nhân Tông cho xây dựng cung Bảo Hoa. Khi xây dựng xong, nhà vua đã biên soạn quyển “Bảo Hoa Dư Bút” để lưu niệm. Thiền sư Không Lộ (sinh ngày 14-8 năm Bính Thìn, tịch ngày 13-6-1119 Giáp Tuất) đã đúc tượng Phật A-di-đà thờ tại chùa Quỳnh Lâm, Đông Triều, Hải Dương nay là Quảng Ninh.
Đặc tính kết hợp Mật giáo, thông qua Thiền sư Bát Nhã, Thiền sư Không Lộ, Thiền sư Giác Hải cũng cho thấy yếu tố Thiền - Tịnh - Mật được kết hợp trong quá trình tu học, hành đạo của các thiền sư Thiền phái, tình hình kéo dài cho đến đời Trần vẫn còn, nhất là đời Trần Minh Tông, Trần Anh Tông, Trần Nghệ Tông. Vua Trần Minh Tông cho dịch bộ kinh Tán Cái Đà-la-ni v.v… thậm chí cả Pháp Loa đại sư đã làm lễ Quán đảnh và trì chú cho vua Trần Anh Tông,  Văn Huệ Vương, Uy Vệ Vương v.v… và phân khoa chú thích kinh Kim Cang Trường Đà-la-ni, soạn bộ Hộ Quốc Nhân Vương Nghi Quỹ dùng riêng cho vua Trần Minh Tông, cho đến Thiền sư Huyền Quang (1254 - 1334) đã cho thiết kế đài Cửu phẩm Liên hoa tại chùa Tu Phúc (Côn Sơn, Hải Dương) v.v… Không những thế mà còn kéo dài cho đến thời Lê, Nguyễn và cận đại, yếu tố Thiền - Tịnh - Mật song tu vẫn còn tiếp diễn đến ngày nay tại các cơ sở của Phật giáo Việt Nam qua các Thiền phái Tào Động, Lâm Tế, Nguyên Thiều, Liễu Quán chẳng hạn.
Yếu tố Nho giáo tồn tại trong Thiền phái Thảo Đường triều Lý là điều rất rõ ràng - Tôn quân, ái quốc, tận trung là điều kiện để tồn tại và phát triển đất nước và xã hội Đại Việt theo phương thức định chế Nho giáo. Qua đó, khái niệm quân thần, phụ tử, đạo vua tôi vẫn tiếp tục thể hiện rõ nét trong cung cách hành xử của triều đình bá quan văn võ và thần dân trong nước, cũng như những người kế thừa Thiền phái Thảo Đường Đại Việt.
Một vấn đề đặc biệt là Thiền phái Thảo Đường không phân biệt vua, quan, thiền sư, Tăng tục, miễn là ngộ lý Thiền thì bình đẳng như nhau. Qua đó, số thiền sư cư sĩ ngộ lý Thiền kế thừa chiếm đa số, và phần lớn đều là những nhân tài, thành phần trí thức của xã hội đời Lý, làm tiền đề cho Thiền học thời Trần sau nầy (1225 - 1400) của Đại Việt, góp phần xây dựng đất nước, phục vụ nhân dân làm cho dân giàu nước mạnh dưới thời Đại Việt và cho Phật giáo đời Trần với thời gian kéo dài gần 200 năm.
Dù Thiền phái Thảo Đường tồn tại phát triển gần 200 năm trên đất nước Đại Việt (Việt Nam), nhưng vì mang tính Thiền tri thức, quan chức, triều đình vua chúa, không phổ thông hóa trong dân gian, nên không bám rễ được lâu dài trong lòng nhân dân và xã hội. Do đó, khi những người kế thừa và triều đại đi qua thì dòng Thiền cũng theo đấy mà mờ dần và mai một, tuy nhiên ảnh hưởng di sản là pháp môn Thiền - Tịnh - Mật song tu vẫn còn bàng bạc trong các hệ tư tưởng, văn học và các môn phái khác trong suốt chiều dài lịch sử Phật giáo Việt Nam gần 1.000 năm qua.      

III. Kết luận
Thiền phái Thảo Đường thuộc Thiền phái Vân Môn, một trong năm môn phái Thiền Trung Hoa là Tào Động, Lâm Tế, Qui Ngưỡng, Pháp Nhãn, Vân Môn hoạt động tại Trung Hoa hơn 200 năm. Sang Đại Việt (Việt Nam) tính từ Tổ Thảo Đường đời thứ 5 Thiền phái Vân Môn Trung Hoa, nhưng là đời thứ nhất Thiền phái Thảo Đường Đại Việt, truyền xuống cho vua Lý Thánh Tông, kết thúc vào thời vua Lý Cao Tông (1210) và các thiền sư khác, tổng cộng gần 200 năm trên đất Việt, gồm có 19 vị thiền sư, mười thiền sư xuất gia, chín thiền sư cư sĩ. Thiền sư Thảo Đường là đời thứ nhất, truyền cho vua Lý Thánh Tông là đời thứ hai nhưng là đời thứ 6 Thiền phái Vân Môn, cho đến thế hệ thứ 6 là đời thứ 10. Dù Thiền phái chỉ tồn tại trong thời Lý, từ năm 1069 đến năm 1225 nhưng tư tưởng Thiền, Tịnh, Mật song tu vẫn còn tác động ảnh hưởng đến các thiền phái khác như Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Thiền sư Chân Không), Quảng Nghiêm, Viên Chiếu, Thiền sư Minh Trí, Trí Bảo thuộc Thiền phái Vô Ngôn Thông v.v… cho đến Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần và Lê, Nguyễn (Nguyên Thiều, Liễu Quán) về sau, cho đến ngày nay, tư tưởng Thiền - Tịnh - Mật kết hợp cùng tu tập vẫn còn tồn tại mạnh mẽ, gần như đại đa số Tăng Ni, Phật tử, các cơ sở tự viện Phật giáo Việt Nam đều hành trì pháp môn ngồi thiền, niệm Phật, trì chú v.v…
Như cổ đức dạy: “Đặt gương Tổ trước ta sau. Bớt duyên niệm Phật, pháp mầu nào hơn”.
 
Tài liệu tham khảo:
- Thiền sư Trung Hoa - HT.Thanh Từ, Nxb TG, 2002.
- Thiền sư Việt Nam - HT.Thanh Từ, 1992.
- Thiền uyển tập anh - GS.Lê Mạnh Thát, Nxb TP, 1999.
- Việt Nam Phật giáo sử luận - Nguyễn Lang, Nxb VHHN, 2008.
- Lịch sử Phật giáo Việt Nam - GS.Lê Mạnh Thát, Nxb TP, 2002.
- Phật giáo thời Lý - Ban PGVN, VNCPHVN, HVPGVN - TP.HCM, 2010.
- An Nam chí lược - Lê Tắc.
- Việt điện U linh tập - Lý Tế Xuyên.
 
  • Copyright © 2019 Chùa Minh Đạo
  • Ghi rõ nguồn Chùa Minh Đạo khi sử dụng thông tin từ website này