Phật giáo

TIỂU SỬ TỔ PHI LAI HIỆU CHÍ THIỀN
09:55 | 08/03/2019 (GMT+7)
Tổ Phi Lai thế danh Nguyễn Văn Hiển, húy Như Hiển, hiệu Chí Thiền, sinh tháng hai năm Tân Dậu (1861) tại xã Diêm Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.


GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

TIỂU SỬ TỔ PHI LAI HIỆU CHÍ THIỀN
(1861 - 1933)
 
Tổ Phi Lai thế danh Nguyễn Văn Hiển, húy Như Hiển, hiệu Chí Thiền, sinh tháng hai năm Tân Dậu (1861) tại xã Diêm Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ông Nội là Hộ Quốc Công Nguyễn Công Thành từng giữ chức Hậu quân, Tiền quân Tổng Trấn Bắc thành triều vua Gia Long. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Hân làm quan đến chức Bố Chánh Quảng Nam.

Năm 1878, khi Ngài 18 tuổi, sắc chỉ triều đình bổ nhiệm làm quan Hậu bổ hạt Khánh Hòa. Vì liên luỵ đến phong trào Văn Thân Cần Vương chống Pháp dưới thời vua Hàm Nghi, nên Ngài lánh nạn vào Nam sinh sống.

Năm Tân Tỵ (1881), vốn sẵn có hạt giống Bồ đề xuất trần thượng sĩ, Ngài tỏ ngộ lý vô thường “Nếu việc nước không xong thì xin làm tròn việc đạo” cho nên Ngài đến xin quy y xuất gia với Tổ Minh Mai – Minh Phương, trụ trì chùa Giác Viên, Giác Lâm Gia Định, được Tổ ban Pháp húy Như Hiển, hiệu Chí Thiền, nối pháp dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 39.

Sau khi xuất gia Ngài được học đạo với Tổ Minh Khiêm – Hoàng Ân, và phát tâm làm công quả, mỗi ngày chở 100 xe đất đắp nền chùa Giác Viên cho đến khi hoàn thành. Sau đó Ngài phát nguyện nhập thất tịnh tu 3 năm trì tụng Kinh Pháp Hoa đã thọ học từ các bậc minh Sư và  được Hòa thượng Bổn sư ấn chứng.

Sau khi ra thất, Ngài cùng Bổn sư khởi công xây dựng chùa Giác Sơn – Phú Thọ, Chợ Lớn. Khi công trình hoàn thành năm Đinh Hợi 1887, Hòa thượng được Bổn sư công cử giữ chức Tri sự.

Năm Kỷ Tỵ (1899), Bổn sư viên tịch, Hòa thượng phải đảm nhiệm trụ trì chùa Giác Viên một thời gian và cùng với quý Hòa thượng Minh Khiêm, Minh Vi quản lý chùa Giác Lâm mà chư Tổ đã dày công xây dựng và phát triển.

Năm (1900) Sau khi sắp xếp công việc tại Chùa và giao lại cho Hòa Thượng Minh Khiêm quản lý, về sau HT Minh Khiêm giao lại cho HT Như Nhãn – Từ Phong. Rồi từ giả quý huynh đệ, Ngài đã mang Xá lợi Bổn sư về Núi Thất Sơn tu tịnh. Khi qua kênh Vĩnh Tế được Ông Năm Thanh hướng dẫn lên Chùa Phi Lai làng Tú Tề lễ Phật, Rồi đi thẳng vào Núi Cấm tịnh tu, vị trí Chùa Vạn Linh – Đài Phật Di Lặc hiện nay.

Sau khi đưa Hòa thượng lên chùa Phi Lai Lễ Phật xong, ông Năm Thanh mời họp các hương chức làng Tú Tề và Phật tử địa phương bàn phương án viết thư hiến cúng chùa Phi Lai và cung thỉnh Hòa thượng về trụ trì lo Phật sự. Hòa thượng đã hoan hỷ hứa khả về trụ trì chùa Phi Lai năm 1905 và bắt đầu trùng tu cơ sở từ một ngôi chùa lá đơn sơ bé nhỏ trở thành một ngôi chùa khang trang uy nghiêm trong làng Tú Tề.

Năm Giáp Thìn (1904), một trận lụt khủng khiếp tàn phá miền Tây, nặng nhất là tỉnh Gò Công, Hòa thượng đã tích cực công tác cứu tế, từ thiện xã hội trong cơn nguy biến. Cứu vớt trên 500 người, mai táng xác nạn nhân trên 500 người và sau đó tổ chức Đại lễ Kỳ siêu 03 ngày cho những nạn nhân xấu số do thiên tai gây ra. 

Một đêm nằm mộng, Ngài thấy một ông cụ mang đến cho Hòa thượng một bộ đồ trắng, khi thức giấc Ngài biết trong gia đình có người thân mất, nên ngày Rằm tháng Chạp năm Giáp Thìn, Ngài trở về quê lo tang chay cho Thân mẫu, đến mãn chung thất Ngài mới trở lại chùa Phi Lai.

Năm Đinh Mùi (1907), một tai nạn bịnh dịch trầm trọng hoành hành trong vùng, Hòa thượng đã lập Đàn Dược Sư và cùng dân chúng cầu nguyện trong suốt 49 ngày. Hòa thượng đã tận tâm cứu chữa dân chúng qua cơn đại nạn, từ đó, Ngài tạo được ảnh hưởng và ân đức khắp vùng Châu Đốc – An Giang.

Năm 1917, Chưởng giáo Nam Cực đường Nguyễn Văn Do bị Pháp bắt, chánh quyền Pháp nghi Hòa thượng có liên quan nên bắt giam Hòa thượng ở khám lớn Sài gòn 10 tháng. Trong thời gian bị giam giữ, Hòa thượng từng nói: “Nếu người Pháp không thả tôi ra thì ở trong tù tôi vẫn tu”. Qua một thời gian Pháp không tìm ra tung tích và mối liên quan với Chưởng giáo Nam Cực đường Nguyễn Văn Do nên Pháp đã phóng thích Hòa thượng, nhưng phạt Hòa thượng phải đắp con lộ từ chợ Voi đến ngã ba và cho người theo dõi nghiêm ngặt.

Với giới đức trang nghiêm thanh tịnh, đạo hạnh sáng ngời vùng miền Tây Nam bộ nên trong những năm 1915 – 1917, 1919, 1925, 1927 Ngài làm đàn đầu Hòa thượng truyền trao giới pháp cho các giới tử tại chùa Phi Lai do Hòa thượng trụ trì.

Ngày Rằm tháng 9 năm Ất Sửu (1925) chùa Tà Lạp (Từ Lập – Cao Mên) có tượng Phật bằng vàng vì cảm đức Hòa thượng nên Phật đã báo mộng cho Lục Cả và bảo hãy đem tượng Phật cúng dường cho Hòa thượng. Qua nhiều lần thử nghiệm, biết Hòa thượng là bậc chân tu, đạo cao đức trọng nên Lục Cả chùa Tà Lạp dâng cúng tượng Phật bằng vàng cho Hòa thượng.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Hòa thượng Lê Khánh Hòa, chủ xướng phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam, xóa nạn thất học Phật pháp cho Tăng Ni, bài trừ mê tín dị đoan, phát huy chánh tín, chánh lý trong giới Tăng Ni, Phật tử. Năm 1927, Hòa thượng cùng Tổ Khánh Anh, Vạn Ân, Vạn Pháp, Chơn Niệm chứng minh Lễ khai giảng và giảng dạy Lớp Phật học gia giáo đầu tiên cho Ni giới tại chùa Giác Hoa - Bạc Liêu. Năm 1928, Hòa thượng tiếp tục khai giảng Lớp Phật học gia giáo tại chùa Phi Lai, do Quý Hòa thượng Khánh Anh, HT. Huệ Quang, HT. Pháp Hải, HT. Diệu Pháp, HT. Chánh Tâm, HT. Tâm Quang, HT. Vạn Ân… chủ giảng. Ngoài việc giảng dạy và chứng minh Phật sự tại chùa Giác Hoa – Bạc Liêu, chùa Phi Lai – Châu Đốc, Hòa thượng còn chứng minh cho Lớp Phật học tại chùa Linh Nguyên – Đức Hòa, Long An. Đặc biệt, nhân mùa An cư Kiết hạ đầu tiên của Ni giới tại chùa Giác Hoa – Bạc Liêu, Hòa thượng đã truyền trao giới pháp cho Ni chúng, hình thành Ni giới đầu tiên tại Nam bộ như Ni sư Hồng Nga, Hồng Tích, Hồng Thọ, Hồng Lầu, Hồng Khoái…   
 
Năm Kỷ Tỵ (1929), Ngài đã cùng với quý Hòa thượng Khánh Anh, HT Huệ Quang, HT Vận Ân, HT Vạn Pháp thân lâm chứng minh Đại giới đàn tại chùa Trùng Khánh, Phan Rang, do HT. Chơn Niệm làm Trưởng ban Kiến Đàn để truyền trao giới pháp cho các giới tử vùng Nam Trung bộ.

Trong phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, do Tổ Khánh Hòa đề xướng, năm Nhâm Thân (1931), khi Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học được thành lập, do Hòa thượng Khánh Hòa làm Hội trưởng, trụ sở đặt tại chùa Linh Sơn, Sài gòn, Hòa thượng là một thành viên Chứng minh Đạo sư của Hội và  Hòa thượng đã nỗ lực vận động tài chánh ủng hộ 300 đồng tiền Đông Dương cho các hoạt động Phật sự trọng đại của Hội, công việc nầy được Hòa thượng tiếp tục cho đến ngày về cõi Phật.

Năm 1932, Ngài làm Đường đầu Hòa thượng Đại Giới đàn chùa Tam Bảo – Hà Tiên để truyền trao giới pháp cho các giới tử trong khu vực.

Trong thời gian hơn 60 năm thi hành Phật sự, Hòa thượng đã Quy y Tam bảo cho hàng trăm Phật tử hữu duyên, và hơn 40 Tăng Ni xuất gia, trở thành Pháp khí cho Đạo pháp, góp phần phát triển Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ khác nhau của lịch sử và xã hội làm cho Tổ ấn trùng quang, đạo vàng phát triển, chúng sanh lợi lạc, tốt đời đẹp đạo.

Với tinh thần hộ quốc an dân, Hòa thượng đã âm thầm ủng hộ các phong trào yêu nước ở Trung bộ và Nam bộ. Ngoài công việc cứu nhân độ thế, đạo đức sáng ngời miền Tây Nam bộ Hòa thượng đã để lại những dấu ấn lịch sử và công đức rất lớn trong phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam từ năm 1920 cho đến ngày xả bỏ báo thân.

Rồi thân ngũ uẩn của Hòa thượng cũng mỏi mòn theo năm tháng, năm Quý Dậu (1933), Ngài thọ bệnh và trước khi viên tịch Ngài chắp tay niệm lớn: “Nhất niệm Viên quang tội tánh không, đẳng đồng Pháp giới hàm thanh tịnh”. Niệm xong Ngài an nhiên viên tịch vào ngày Rằm tháng 2 năm Quý Dậu. Trụ thế 73 năm và 52 mùa an cư kiết hạ.

Nhục thân Hòa thượng được nhập tháp trong khuôn viên chùa Phi Lai, làng Tú Tề, thị trấn Chi Lăng, huyện Tịnh Biên, Châu Đốc nay là An Giang.

Thế rồi, dù thời gian có đi qua, không gian có biến dịch, song công đức và Đạo hạnh của Hòa thượng vẫn sống mãi trong tâm tư Tăng Ni, Phật tử Việt Nam và trang sử vàng son của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.

Nam mô Phi Lai đường thượng Từ Lâm Tế Gia Phổ, tam thập cửu thế, Pháp húy Như Hiển, hiệu Chí Thiền, Nguyễn Công Hòa thượng Tổ sư tác đại chứng minh.
 
 
  • Copyright © 2019 Chùa Minh Đạo
  • Ghi rõ nguồn Chùa Minh Đạo khi sử dụng thông tin từ website này